Tiểu sử

Tiểu sử nhà Nguyễn – Cuộc đời của nhà Nguyễn

Mục lục

nhà Nguyễn

Nhà Nguyễn (Chữ Nôm: 家阮, Chữ Hán: 阮朝; Hán Việt: Nguyễn triều) là triều đại cuối cùng trong lịch sá»­ Việt Nam, năm 1802 đến năm 1804 sá»­ dụng quốc hiệu Nam Việt (Gia Long khi triều cống nhà Thanh tá»± xÆ°ng “Nam Việt Quốc trưởng”), năm 1804 đến năm 1839 sá»­ dụng quốc hiệu Việt Nam, Đại Việt Nam, năm 1839, vua Minh Mạng Nguyễn Phúc Kiểu đổi quốc hiệu là Đại Nam. Nhà Nguyễn được thành lập sau khi vua Gia Long lên ngôi năm 1802 và chấm dứt hoàn toàn khi hoàng đế Bảo Đại thoái vị vào năm 1945, tổng cộng là 143 năm. Triều Nguyễn là một triều đại đánh dấu nhiều thăng trầm của lịch sá»­, đặc biệt là cuộc xâm lược của người Pháp giữa thế ká»· 19.

Triều Nguyễn trải qua hai giai đoạn chính:

  • Giai đoạn thứ nhất (1802-1858) được coi là giai đoạn độc lập, các vua nhà Nguyễn nắm toàn quyền quản lý đất nước, trải qua 4 đời vua, Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tá»± Đức. Gia Long và sau đó là Minh Mạng đã cố gắng xây dá»±ng Việt Nam trên nền tảng Nho giáo và xóa bỏ các cải cách theo hướng tiến bộ của nhà Tây SÆ¡n. Từ thập niên 1850, một nhóm trí thức Việt Nam, tiêu biểu là Nguyễn Trường Tộ, đã nhận ra sá»± trì trệ của đất nước yêu cầu học hỏi phÆ°Æ¡ng Tây để phát triển công nghiệp – thÆ°Æ¡ng mại, cải cách quân sá»± – ngoại giao, nhÆ°ng họ chỉ là thiểu số. Do đa số quan chức triều Nguyễn và giới sÄ© phu không ý thức được sá»± cần thiết của việc cải cách kinh tế, văn hóa, quân sá»±, ngoại giao… và mở cá»­a đất nước nên Tá»± Đức không quyết tâm thá»±c hiện những đề xuất này. Nước Việt Nam dần trở nên trì trệ, lạc hậu và đứng trước nguy cÆ¡ bị thá»±c dân châu Âu xâm chiếm.
  • Giai đoạn thứ hai, (1858-1945) được coi là giai đoạn bị Pháp xâm lăng và đô hộ, kể từ khi quân Pháp đánh Đà Nẵng và kết thúc sau khi hoàng đế Bảo Đại thoái vị. Tháng 8 năm 1858, Hải quân Pháp đổ bộ tấn công vào cảng Đà Nẵng và sau đó rút vào xâm chiếm Gia Định. Tháng 6 năm 1862, vua Tá»± Đức ký hiệp ước cắt nhượng ba tỉnh miền Đông cho Pháp. Năm 1867, Pháp chiếm nốt ba tỉnh miền Tây kế tiếp để tạo thành một lãnh thổ thuộc địa Cochinchine (Nam Kỳ). Sau khi củng cố vị trí vững chắc ở Nam Kỳ, từ năm 1873 đến năm 1886, Pháp xâm chiếm nốt những phần còn lại của Việt Nam qua những cuộc chiến phức tạp ở Bắc Kỳ. Đến năm 1884 thì nhà Nguyễn chính thức công nhận quyền cai trị của Pháp trên toàn Việt Nam. Pháp có quyền cai trị, còn các vua nhà Nguyễn chỉ còn là tượng trÆ°ng, quân Pháp có thể tùy ý phế lập vua Nguyễn. Giai đoạn này kết thúc khi Bảo Đại tuyên bố thoái vị năm 1945.

Bạn đang xem: Tiểu sử nhà Nguyễn – Cuộc đời của nhà Nguyễn

Thời kỳ độc lập

Thành lập

Gia Long, vị vua sáng lập triều Nguyễn

Năm 1778, Nguyễn Ánh quay lại và tập hợp lực lượng chiếm được Gia Định và đến năm 1780, ông xưng vương. Trong mùa hè năm 1781, quân đội của Nguyễn Ánh lên đến khoảng 3 vạn người với 80 chiến thuyền đi biển, 3 thuyền lớn và 2 tàu Bồ Đào Nha do giám mục Bá Đa Lộc giúp Nguyễn Ánh mời được . Ông tổ chức tấn công Tây Sơn đánh tới tận đất Phú Yên nhưng sau cùng phải rút chạy vì gặp bộ binh rất mạnh của Tây Sơn . Tức giận vì tốn kém nhưng không thu được kết quả, quan lại Gia Định để cho một người phụ việc của Bá Đa Lộc là cai cơ Manuel (Mạn Hòe)[a] lập mưu giết chết các tay lính đánh thuê Bồ Đào Nha và cướp tàu của họ .

Tháng 3 năm 1782, Nguyễn Huệ cùng vua Thái Đức mang quân thuỷ bộ Nam tiến. Tây Sơn đụng trận dữ dội ở sông Ngã Bảy, cửa Cần Giờ với quân Nguyễn do chính Nguyễn Ánh chỉ huy. Dù lực lượng thuyền của Tây Sơn yếu hơn, nhưng nhờ lòng can đảm của mình, họ đã phá tan quân Nguyễn, buộc Manuel tự sát, tuy vậy cũng thiệt hại khá nhiều binh lực . Nguyễn Ánh bỏ chạy về Ba Giồng, rồi có khi trốn sang tận rừng Romdoul, Chân Lạp . Vua Thái Đức khi tấn công Nam bộ do cướp bóc Cù lao Phố nên gặp phải sự chống đối mạnh của người Hoa ủng hộ Nguyễn Ánh tại đây khiến cho một thân tướng là Đô đốc Phạm Ngạn tử trận, binh lính thương vong nhiều, nên ông rất đau đớn rồi nổi giận ra lệnh tàn sát người Hoa ở Gia Định để trả thù . Việc này đã cản chân Tây Sơn trong việc truy bắt Nguyễn Ánh, khiến cho Nguyễn Ánh có cơ hội quay trở về Giồng Lữ, một đô đốc Tây Sơn là Nguyễn Học đem quân đuổi theo Ánh bị quân Nguyễn bắt giết khiến cho Nguyễn Ánh có được 80 thuyền của Tây Sơn. Nguyễn Ánh thấy vậy định kéo về chiếm lại Gia Định nhưng đụng Nguyễn Huệ dàn binh quay lưng ra sông đánh bại khiến Nguyễn Ánh phải chạy về Hậu Giang, Rạch Giá, Hà Tiên rồi theo thuyền nhỏ trốn ra Phú Quốc .

Sau khi chiến thắng quân Thanh, vua Quang Trung đang chuẩn bị phối hợp với Nguyễn Nhạn đem quân vào Nam đánh Gia Định thì đột ngột qua đời (1792), con là Nguyễn Quang Toản còn nhỏ tuổi lên nối ngôi, hiệu là Cảnh Thịnh. Loạn lạc liền nổ ra ở Bắc Hà, sÄ© phu trung thành với nhà Lê nổi lên tôn Lê Duy Cận làm minh chủ, Duy Cận liên lạc với Nguyễn Ánh để cùng đánh Tây SÆ¡n , việc này góp phần làm cho nhà Tây SÆ¡n nhanh chóng suy yếu. Nội bộ Tây SÆ¡n xảy ra tranh chấp, quyền hành rÆ¡i vào tay ngoại thích Bùi Đắc Tuyên . Từ đó, Nguyễn Ánh ra sức mở các đợt tấn công ra Quy NhÆ¡n theo nguyên tắc đã định trước đó: “Gặp nồm thuận thì tiến, vãn thì về, khi phát thì quân lính đủ mặt, về thì tản ra đồng ruộng” . Ngoài ra, Nguyễn Ánh còn định cho sứ đi ngoại giao với Trung Quốc, lợi dụng mâu thuẫn và thù hằn của quốc gia này với Tây SÆ¡n, và cả sá»± có mặt của Lê Chiêu Thống bên đó để khiến Trung Quốc giúp mình, nhÆ°ng việc không thành do khi sứ của Nguyễn Ánh là Ngô NhÆ¡n TÄ©nh và Phạm Thận sang đến nÆ¡i thì Lê Chiêu Thống đã mất .

Năm 1793, Nguyễn Ánh cùng các tướng Võ Duy Nguy, Nguyễn Văn Trương, Võ Tánh, Nguyễn Huỳnh Đức, Lê Văn Duyệt, Nguyễn Phước Hội, Philippe Vannier, Nguyễn Văn Hòa, Chưởng cơ Cố đem quân đánh Nha Trang, Diên Khánh, Phú Yên rồi tranh thủ đánh tới tận thành Quy Nhơn của Nguyễn Nhạc. Nguyễn Nhạc cầu cứu quân ở Phú Xuân. Vua Cảnh Thịnh sai Ngô Văn Sở, Phạm Công Hưng, đô đốc Hố và Chưởng cơ Thiêm đem 17.000 quân, 80 thớt voi,và 30 chiếc thuyền chia nhiều đường tiến vào cứu, quân Nguyễn Ánh rút lui , trên đường về ông sai quân đắp thành Diên Khánh để lợi dụng địa thế nơi này làm bàn đạp chống Tây Sơn. Cùng thời gian, quân Phú Xuân của Tây Sơn nhân dịp đánh chiếm luôn thành Bình Định và kho tàng của Nguyễn Nhạc. Lúc đó Nguyễn Nhạc đang bệnh trên giường, nghe tin gia sản mà ông để lại cho con mình là Quang Bảo bị chiếm mất, uất quá thổ huyết mà qua đời. Quang Toản cho an trí Quang Bảo ra huyện Phù Ly và cai quản toàn bộ đất đai của Nguyễn Nhạc.

Từ năm 1794 đến năm 1795, Tây Sơn phản công, họ cho quân nhiều lần vào đánh Phú Yên, vây thành Diên Khánh , quân Nguyễn cũng ra sức chống cự, nhiều lần kìm hãm, thậm chí là đánh lại được quân Tây Sơn . Tuy nhiên nội bộ Tây Sơn lại mâu thuẫn, các tướng tranh quyền. Vũ Văn Dũng giết Bùi Đắc Tuyên và Ngô Văn Sở, Quang Toản nhỏ tuổi không làm gì được. Trần Quang Diệu đang đi đánh Nguyễn Ánh, nghe tin đành rút quân về, suýt giao tranh với Vũ Văn Dũng may nhờ có Quang Toản sai quan ra khuyên giải Trần Quang Diệu mới đồng ý hòa. Nhưng sau đó Quang Toản lại nghe lời gièm pha tước mất binh quyền của Trần Quang Diệu, Tây Sơn từ đó cứ lục đục mãi, các quan nghi kị giết hại lẫn nhau tạo điều kiện thuận lợi cho Nguyễn Ánh . Năm 1797, Nguyễn Ánh cho quân ra đánh Phú Yên, riêng ông thì cùng Nguyễn Phúc Cảnh chỉ huy thủy quân ra tận Quy Nhơn giao chiến với tướng Tây Sơn là Lê Trung tại Thị Nại thu được nhiều khí giới , nhưng khi tới Quy Nhơn thấy thế lực Tây Sơn thủ mạnh quá đành vòng lên đánh Quảng Nam nhưng được mấy tháng lại rút về vì thuyền chở quân lương từ Gia Định bị ngược gió không lên kịp.

Nguyễn Ánh chiêu dụ Nguyễn Quang Bảo nhưng việc chưa thành vì Quang Toản ra tay trước, bắt và giết được Quang Bảo. Nhưng Tây Sơn lại rơi vào lục đục, Quang Toản nghi ngờ giết hại nhiều triều thần, võ tướng, khiến cho sức chiến đấu suy giảm, thêm nhiều người sang hàng Nguyễn Ánh. Năm 1799, Nguyễn Ánh cho sứ yêu cầu vua Xiêm La cho một đạo quân Chân Lạp và Vạn Tượng đi đến sát biên giới Nghệ An để nghi binh và vua Xiêm đồng ý làm theo. Cũng trong năm 1799, Nguyễn Ánh tự cầm quân đi đánh thành Quy Nhơn , tướng giữ thành của Tây Sơn là Vũ Tuấn đầu hàng dù trước đó Quang Toản đã sai Trần Quang Diệu và Vũ Văn Dũng đem quân vào cứu . Sau đó, Nguyễn Ánh đổi tên Quy Nhơn thành Bình Định , rồi cho quân tới trấn giữ thành. Tây Sơn ngay lập tức tìm cách chiếm lại; tháng 1 năm 1800, hai danh tướng Trần Quang Diệu và Vũ Văn Dũng kéo đến vây thành Quy Nhơn. Nguyễn Ánh cho quân ra cứu nhưng bị bộ binh Tây Sơn chặn lại, ông chia quân đi đánh các nơi và thắng nhiều trận, trong đó có một trận lớn ở Thị Nại . Thấy thế Tây Sơn vây Quy Nhơn còn mạnh, Nguyễn Ánh cho người lẻn mang thư đến bảo tướng quân Nguyễn giữ thành là Võ Tánh mở đường máu mà trốn ra nhưng Võ Tánh quyết tử thủ để tạo điều kiện cho Nguyễn Ánh đánh Phú Xuân , việc này khiến thời gian hai danh tướng Tây Sơn bị cầm chân lên hơn một năm . Năm 1801, Nguyễn Ánh nhận thấy tinh binh Tây Sơn đều tập trung cả ở chiến trường Quy Nhơn nên mang quân chủ lực vượt biển ra đánh Phú Xuân. Tháng 5 năm 1801, Nguyễn Ánh kéo quân giao chiến dữ dội với Tây Sơn ở cửa Tư Dung ; rồi đụng Quang Toản ở cửa Eo , Quang Toản thua trận bỏ chạy ra Bắc và đến ngày 3 tháng 5 Nguyễn Ánh giành được Phú Xuân .

Cùng thời gian nghe tin Phú Xuân bị tấn công, Trần Quang Diệu đang vây Quy Nhơn sai binh về cứu nhưng bị quân Nguyễn chặn đánh nên quân không về được, ông chỉ còn cách cố gắng đốc binh chiếm thành . Đầu năm 1802, Tây Sơn mới chiếm lại thành Quy Nhơn, Võ Tánh tự vẫn để xin tha mạng cho binh sĩ . Trần Quang Diệu tha cho binh lính Nguyễn, an táng Võ Tánh và thuộc tướng rồi bỏ thành Quy Nhơn; cùng Vũ Văn Dũng mang quân cứu viện ra Nghệ An, bị quân Nguyễn chặn đường, phải vòng qua đường Vạn Tượng . Lúc tới Nghệ An thì thấy thành đã mất, quân sĩ bỏ chạy gần hết, vợ chồng Trần Quang Diệu và Bùi Thị Xuân bị bắt , Vũ Văn Dũng không rõ số phận.[b]

Cũng trong thời gian này, sau khi chiến thắng quân Tây Sơn, hoàn toàn chiếm được Phú Xuân, Nguyễn Ánh lên ngôi hoàng đế ngày 1 tháng 6 (âm lịch) năm Nhâm Tuất (1802) . Để tượng trưng sự thống nhất Nam-Bắc lần đầu tiên sau nhiều năm, Nguyễn Ánh chọn niên hiệu là Gia Long, chữ Gia lấy từ Gia Định và Long lấy từ Thăng Long . Sau đó ông cho người đem toàn bộ ấn sách nhà Thanh trao cho Tây Sơn trả lại và xin phong, rồi sai Lê Văn Duyệt kéo quân tiếp ra Bắc Hà diệt hoàn toàn nhà Tây Sơn.

Tổ chức bộ máy

Quan chế và tổ chức chính quyền trung ương

Phẩm phục của quan văn (trái) và quan võ (phải).

Ngay từ sớm, Nguyễn Ánh đã phong vương, đặt quan lại cho những người theo phò tá mình. Sau khi đánh bại nhà Tây Sơn và trở thành hoàng đế Gia Long, ông lại tiếp tục kiện toàn lại hệ thống hành chính và quan chế của chính quyền mới. Nhà Nguyễn về cơ bản vẫn giữ nguyên hệ thống quan chế và cơ cấu chính quyền trung ương giống như các triều đại trước đó. Đứng đầu nhà nước là vua, nắm mọi quyền hành trong tay. Giúp vua giải quyết giấy tờ, văn thư và ghi chép có Văn thư phòng (năm 1829 đổi là Nội các). Về việc quân quốc trọng sự thì có 4 vị Điện Đại học sĩ gọi là Tứ trụ Đại thần, đến năm 1834 trở thành viện Cơ mật. Ngoài ra còn có Tông nhân phủ phụ trách các công việc của Hoàng gia .

Bên dưới, triều đình lập ra 6 Bộ, đứng đầu mỗi bộ là quan Thượng thÆ° chịu trách nhiệm chỉ đạo các công việc chung của Nhà nước, các bộ gồm: Bộ Lại, Bộ Hộ, Bộ Lễ, Bộ Binh, Bộ Hình và Bộ Công. Bên cạnh 6 Bộ còn có Đô sát viện (tức là Ngá»± sá»­ đài bao gồm 6 khoa) chịu trách nhiệm thanh tra quan lại, Hàn lâm viện phụ trách các sắc dụ, công văn, 5 Tá»± phụ trách một số sá»± vụ, phủ Nội vụ coi sóc các kho tàng, Quốc tá»­ giám phụ trách giáo dục, Thái y viện chịu trách nhiệm về việc chữa bệnh và thuốc thang,… cùng với một số Ti và Cục khác.

Theo Trần Trọng Kim, người ta “thường hiểu mấy chữ quân chủ chuyên chế theo nghÄ©a của các nước Tây Âu ngày nay, chứ không biết mấy chữ ấy theo cái học Nho giáo có nhiều chỗ khác nhau…” Theo tổ chức của nhà Nguyễn, khi có việc gì quan trọng, thì vua giao cho đình thần các quan cùng nhau bàn xét. Quan lại bất kỳ lớn bé đều được đem ý kiến của mình mà trình bày. Việc gì đã quyết định, đem dâng lên để vua chuẩn y, rồi mới thi hành. Hoàng đế tuy có quyền lớn nhÆ°ng lại không được làm điều gì trái phép thường. Khi vua có làm điều gì sai thì các quan Giám Sát Ngá»± Sá»­ có quyền can ngăn vua và thường là vua phải nghe lời can ngăn của những người này. Quan chức của triều đình chỉ phân ra tới phủ huyện, từ tổng trở xuống thuộc về quyền tá»± trị của dân. Người dân tá»± lá»±a chọn lấy người của mình mà cá»­ ra quản trị mọi việc tại đia phÆ°Æ¡ng. Tổng gồm có vài làng hay xã, có một cai tổng và một phó tổng do Hội đồng Kỳ dịch của các làng cá»­ ra quản lý thuế khóa, đê điều và trị an trong tổng.

Ngạch quan lại chia làm 2 ban văn và võ. Kể từ thời vua Minh Mạng được xác định rõ rệt giai chế phẩm trật từ cửu phẩm tới nhất phẩm, mỗi phẩm chia ra chánh và tòng 2 bậc. Trừ khi chiến tranh loạn lạc còn bình thường quan võ phải dưới quan văn cùng phẩm với mình. Quan Tổng đốc (văn) vừa cai trị tỉnh vừa chỉ huy quân lính của tỉnh nhà. Lương bổng của các quan tương đối ít nhưng quan lại được hưởng nhiều quyền lợi, cha họ được khỏi đi lính, làm sưu và miễn thuế tùy theo quan văn hay võ, hàm cao hay thấp. Ngoài ra con cái các quan còn được hưởng lệ tập ấm. Tuy bộ máy không thật sự cồng kềnh, nhưng tệ tham nhũng vẫn là một trong những vấn đề lớn. Trong bộ luật triều Nguyễn có những hình phạt rất nghiêm khắc đối với tội này.

Phân chia hành chính

“An Nam Đại Quốc Họa Đồ” do giáo sÄ© Jean-Louis Taberd vẽ vào triều vua Minh Mạng, in lại trong sách Dictionarium Latino-Annamiticum completum et novo ordine dispositum (Từ điển Việt-La) năm 1838.Bản đồ vÆ°Æ¡ng quốc Đại Nam năm 1844 (trích từ bản đồ vùng Viễn Ấn (Hinter Indien) của Carl Christian Franz (1788-1874).).Quần đảo Hoàng Sa trên bản đồ của Đức năm 1876 vẽ vùng Viễn Ấn Hinter-Indien với lời ghi rõ quần đảo thuộc xứ “Annam”Nước Đại Nam của nhà Nguyễn vào thời điểm kết thúc độc lập năm 1883-1884, lãnh thổ chính bị chia thành 3 xứ Nam Kỳ thuộc địa (Cochinchina), Trung Kỳ (Annam), Bắc Kỳ (Tonkin) thuộc Pháp. Lãnh thổ cá»±c đại của nhà Nguyễn thời độc lập tÆ°Æ¡ng đương với 3 xứ này và những vùng hay vÆ°Æ¡ng quốc mà nhà Nguyễn từng sáp nhập ở xung quanh: Trấn Ninh, Tây Nguyên (Pays de Mois), và Trấn Tây (Cambodge 1834-1840).

Năm 1802, trong khi đã quyết định Phú Xuân là quốc đô, Nguyễn Ánh vẫn tạm đặt 11 trấn phía Bắc (tương đương khu vực Bắc Bộ ngày nay) thành một Tổng trấn với tên cũ Bắc Thành, do một Tổng trấn đứng đầu.

Đến thời Minh Mạng, để nhất thể hóa các đơn vị hành chính trong cả nước, năm 1831-1832 nhà vua thực hiện một cuộc cải cách hành chính lớn, theo đó bỏ các tổng trấn, đổi các dinh, trấn trấn thành tỉnh. Đây là lần đầu tiên đơn vị hành chính tỉnh xuất hiện ở Việt Nam. Năm 1831, Minh Mạng đổi các trấn từ Quảng Trị trở ra thành 18 tỉnh, và vùng còn lại ở phía Nam được chia làm 12 tỉnh. Thừa Thiên, nơi toạ lạc của kinh đô Phú Xuân, là phủ trực thuộc Trung ương. Cả nước được chia làm 30 tỉnh và phủ Thừa Thiên .

Đứng đầu tỉnh là Tổng đốc (mỗi người phụ trách 2-3 tỉnh và chuyên trách 1 tỉnh) và Tuần phủ (dưới Tổng đốc, phụ trách chỉ 1 tỉnh). Giúp việc có Bố chánh sứ ti lo về thuế khóa, hộ khẩu, hành chính; Án sát sứ ti lo về an ninh, luật pháp. Phụ trách về quân sự có chức lãnh binh. Các quan chức đứng đầu tỉnh đều do chính quyền trung ương trực tiếp bổ nhiệm, và thường là võ quan cao cấp, về sau mới bổ dụng thêm các quan văn . Hệ thống chính quyền được phân biệt rõ rệt giữa Trung ương và địa phương, và trong hệ thống này nhà vua, người đứng đầu đất nước, nắm nhiều quyền lực hơn hẳn so với các thời kỳ trước .

Dưới tỉnh là phủ, huyện, châu, tổng và xã. Quan chức của triều đình chỉ phân ra tới phủ huyện, từ tổng trở xuống do người dân tự lựa chọn cử ra quản trị. Tổng gồm có vài làng hay xã, có một cai tổng và một phó tổng do Hội đồng Kỳ dịch của các làng cử ra quản lý thuế khóa, đê điều và trị an trong tổng . Nhìn chung, cơ cấu hành chính của các tổng, xã được tổ chức khá chặt chẽ để triều đình dễ dàng quản lý và phản ứng mau lẹ khi có sự biến xảy ra.

Đối với vùng thượng du và với các khu vực sinh sống của các dân tộc thiểu số, Minh Mạng thực hiện nhất thể hóa về mặt hành chính cùng với các vùng miền xuôi. Năm 1829 ông bãi bỏ chế độ thế tập của các Thổ ti (các tù trưởng của dân tộc thiểu số) mà cho quan lại lựa chọn những thổ hào ở địa phương làm Thổ tri các châu huyện. Sau đó, Minh Mạng còn đặt thêm một chức lưu quan do người Kinh nắm giữ để khống chế các vùng này tốt hơn và tiến hành thu thuế như ở miền xuôi. Tuy nhiên, do phản ứng của người dân địa phương, vua Tự Đức sau đó đã bãi bỏ chế độ lưu quan .

Tính đến cuối thế kỷ 19, Việt Nam có 98 phủ bao gồm 342 huyện và châu.

Đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vua Gia Long từ năm 1816 đã chính thức ra lệnh tiếp thu Hoàng Sa, cắm cờ trên đảo và đo thuỷ trình. Sang triều Minh Mạng, nhà Nguyễn cho xây đền, đặt bia đá, đóng cọc, và trồng cây. Đội Hoàng Sa và Đội Bắc Hải được trao nhiều nhiệm vụ hơn: khai thác, tuần tiễu, thu thuế dân trên đảo và nhiệm vụ biên phòng bảo vệ hai quần đảo. Hai đội này tiếp tục hoạt động cho đến khi người Pháp vào Đông Dương. Từ thập niên 1890 chính quyền Bảo hộ nhân danh triều đình Huế của nhà Nguyễn cũng có dự định dựng ngọn hải đăng để khẳng định chủ quyền của Pháp trên quần đảo Hoàng Sa nhưng đồ án không thực hiện được và mãi đến năm 1938 mới có lực lượng chính thức chiếm đóng quần đảo này. Dù vậy khi nhà Thanh gửi thuyền xâm phạm quần đảo Hoàng Sa vào những năm đầu thế kỷ 20 thì Bộ Ngoại giao Pháp đã có công văn phản đối. Cuộc tranh chấp này kéo dài cho đến khi người Pháp mất chủ quyền ở Đông Dương và vẫn chưa kết thúc.

Quân đội

Binh lính người Việt thời Nguyễn

Một trong những thành quả Gia Long đạt được sau nhiều năm nội chiến với Tây SÆ¡n là quân đội tÆ°Æ¡ng đối mạnh với trang bị và tổ chức kiểu phÆ°Æ¡ng Tây. Sau khi quản làm chủ toàn bộ quốc gia, nhà Nguyễn xây dá»±ng quân đội hoàn thiện hÆ¡n, chính quy hÆ¡n. Để sung binh ngạch mới, vua Gia Long cho thá»±c hiện phép giản binh, theo hộ tịch tuỳ nÆ¡i mà định, lấy 3, 5 hay 7 suất đinh tuyển 1 người lính. Quân chính quy đóng tại kinh thành và những nÆ¡i xung yếu; các địa phÆ°Æ¡ng đều có lá»±c lượng vÅ© trang tại chỗ làm nhiệm vụ trị an. Quân chính quy có 14 vạn người, ngoài ra còn có quân trừ bị. Quân đội còn được tổ chức thành 4 binh chủng: bộ binh, tượng binh, thủy binh và pháo binh, trong đó bộ binh và thuá»· binh được chú trọng xây dá»±ng để tác chiến độc lập. Trình độ chính quy thống nhất cao. Ngoài vÅ© khí cổ truyền, quân chính quy được trang bị hoả khí mua của phÆ°Æ¡ng Tây nhÆ° đại bác, súng trường, thuyền máy, thuốc nổ…Các loại súng thần công, đại bác được đúc với kích thước, trọng lượng thống nhất; thành luỹ, đồn to nhỏ cÅ©ng được quy định cho từng cấp với số lượng quân nhất định.

Một khẩu đại bác của quân đội nhà Nguyễn ở thành Gia Định xưa

Sự quan tâm tới khoa học quân sự phương Tây của Gia Long được xem là do tình thế bắt buộc thì với Minh Mạng lại hoàn toàn tự nguyện. Minh Mạng lấy phương Tây làm kiểu mẫu cho việc tổ chức quân đội, hướng đến việc quân cần tinh nhuệ, không cần nhiều, bỏ bớt số lượng người cầm cờ từ 40 người xuống 2 người trong đội ngũ đơn vị 1 vệ (500 người). Phương thức tác chiến được các học giả Mãn Thanh ghi nhận là giống hệt kiểu Pháp, do trong quân đội Minh Mạng có thuê các sĩ quan huấn luyện đến từ phương Tây. Có thể nói, quân đội nhà Nguyễn thời Minh Mạng là lực lượng quân sự tân tiến hiện đại nhất ở khu vực Đông Á, vượt trội các nước láng giềng như Trung Hoa, Thái Lan, Campuchia.

Sang thời Tự Đức, công tác quốc phòng của nhà Nguyễn bị sa sút và có sự tương phản rõ rệt với các triều vua trước. Một trong các lý do khiến tình hình quân đội suy sút là vấn đề tài chính. Vũ khí và trang thiết bị làm mới gần như không có. Trang bị bộ binh rất lạc hậu: 50 người mới có 5 súng, mỗi năm chỉ tập bắn 1 lần 6 viên đạn. Vũ khí được bảo trì cũng kém. Về thuỷ binh, không tàu hơi nước nào được đóng mới, thuỷ quân thậm chí không đủ khả năng bảo vệ bờ biển chống hải tặc. Việc giảng dạy binh pháp không chú trọng tới sách vở phương Tây nữa mà quay trở lại với Binh thư yếu lược của Trần Hưng Đạo. Đời sống quân lính không được quan tâm thoả đáng, lương thực lại bị ăn bớt. Do đó tinh thần chiến đấu của quân sĩ không cao. Quan điểm khoa học quân sự của vua quan nhà Nguyễn không hề vượt quá khuôn khổ của khoa học quân sự phong kiến. Việc không bắt kịp với thành tựu mới của khoa học phương Tây thời Tự Đức khiến nền sự Việt Nam bị lạc hậu nhiều. Do đó, khi người Pháp vào xâm lược Việt Nam (1858), khoảng cách về trang thiết bị giữa quân đội nhà Nguyễn và quân Pháp đã khá xa.

Thuế khóa và lao dịch

Việc sinh hoạt quốc gia đòi hỏi phải có đủ tài chính để duy trì bộ máy triều đình nên sau khi lên ngôi, vua Gia Long đã tổ chức lại vấn đề đăng tịch, bắt buộc mỗi làng xã phải ghi vào sổ đinh trong làng số đàn ông từ 18-60 tuổi . Các đinh bộ không bao giờ kê khai hết tất cả số đàn ông trong làng vì ngoài dân đinh còn có một số người là dân ngoại tịch, dân lậu, những người bần cùng, vô sản, không thể đánh thuế cũng như những người mới tới làng định cư .

Do tổ chức xã hội Việt Nam căn bản dựa trên xã, thôn nên triều đình không đòi hỏi người dân phải trả thuế trực tiếp mà giao cho làng lo việc thuế má và sưu dịch, không cần biết làng sẽ phân chia trách nhiệm giữa các dân làng ra sao. Mỗi làng hưởng quyền tự trị rất lớn, tự họ cai trị theo những tục lệ riêng ghi trong hương ước của làng. Hội đồng Kỳ mục trông coi tất cả công sản (tài sản công) và thuế khóa, đê điều, trị an. họ cũng phải lo phân phối công điền (ruộng công) giữa các dân đinh mỗi kỳ quân cấp và chỉ định thanh niên đi lính.

Về thuế nhân đinh và thuế ruộng, Nhà Nguyễn xoá bỏ tất cả chế độ thuế khoá cũ của Tây Sơn để đặt lại thuế khoá mới nặng hơn thời trước. Vua Gia Long cho sửa lại hộ tịch và điền tịch đã hư hỏng qua thời nội chiến. Hộ tịch phân ra 9 hạng, tuỳ từng hạng mà nộp thuế toàn bộ hay được miễn giảm một nửa hoặc miễn trừ cả sưu thuế lẫn sai dịch. Thuế đinh nhà Nguyễn đặc biệt đánh nặng lên dân Thanh Nghệ và Bắc Hà. Dân công nghệ thì nộp thuế sản vật. Thời Minh Mạng thì định lại thuế điền, chia cả nước ra 3 khu vực để đánh thuế. Thuế điền thì dân Thanh Nghệ và Bắc Hà cũng bị nặng hơn ở các miền khác. Theo thống kê của bộ Hộ thì số đinh năm đầu đời Gia Long là 992.559 người, cuối đời Thiệu Trị là 1.024.380 người. Về điền thổ thì đầu đời Tự Đức có 3.398.584 mẫu ruộng và 502.672 mẫu đất .

Mỗi người dân đinh phải chịu 60 ngày lao dịch cho triều đình. Lao dịch thường là để làm các mục đích, xây sá»­a hệ thống đê điều, kênh rạch, sông ngòi; xây đắp các thành lÅ©y; xây dá»±ng các cung điện cho hoàng gia. Trên thá»±c tế, người dân phải lao dịch khá nặng trong thời gian vÆ°Æ¡ng triều Nguyễn xây dá»±ng các cung điện, lăng tẩm, dinh thá»±,… Ví dụ năm 1807, ngay khi kinh thành Huế vừa được xây xong, vua Gia Long lại huy động hàng nghìn dân đinh và binh lính tiếp tục sá»­a chữa và tu bổ thêm trong một thời gian dài. Vua Minh Mạng cÅ©ng tiếp tục công việc xây dá»±ng kinh đô. Vua Thiệu Trị thì không tập trung xây dá»±ng kinh đô nữa, nhÆ°ng, trong một cuộc tuần du lớn ra Bắc Kỳ năm 1842, người dân đã phải xây 44 hành cung cho một phái đoàn đông đến 17.500 người, 44 con voi và 172 con ngá»±a của nhà vua. Theo nhận xét của giáo sÄ© Pháp Guérard: “…sá»± bất công và lộng hành làm người ta rên xiết hÆ¡n cả thời Tây SÆ¡n: thuế khóa và lao dịch đã tăng lên gấp ba” . Trong dân gian đã xuất hiện các bài vè, bài ca miêu tả sá»± nặng nề của chế độ lao dịch, ví dụ bài “Tố khuất khúc” của dân SÆ¡n Nam Hạ có câu:

Binh tài hai việc đã xong,
Lại còn lực dịch thổ công bao giờ.
Một năm ba bận công trình,
Hỏi rằng mọt sắt dân tình biết bao

Luật pháp

Cờ lệnh của Hoàng đế (đế kỳ).

Lúc đầu, nhà Nguyễn chÆ°a có một bộ luật rõ ràng, chi tiết. Vua Gia Long chỉ mới lệnh cho các quan tham khảo bộ luật Hồng Đức để rồi từ đó tạm đặt ra 15 điều luật quan trọng nhất . Năm 1811, theo lệnh của Gia Long, tổng trấn Bắc Thành là Nguyễn Văn Thành đã chủ trì biên soạn một bộ luật mới và đến năm 1815 thì nó đã được vua Gia Long ban hành với tên Hoàng Việt luật lệ hay còn gọi là luật Gia Long. Bộ luật Gia Long gồm 398 điều chia làm 7 chÆ°Æ¡ng và chép trong một bộ sách gồm 22 cuốn, được in phát ra khắp mọi nÆ¡i. Theo lời tá»±a, bộ luật ấy hình thành do tham khảo luật Hồng Đức và luật nhà Thanh nhÆ°ng kỳ thá»±c là chép luật của nhà Thanh và chỉ thay đổi ít nhiều. ChÆ°Æ¡ng “Hình luật” chiếm tỉ lệ lớn, đến 166 điều trong khi những chÆ°Æ¡ng khác nhÆ° “Hộ luật” chỉ có 66 điều còn “Công luật” chỉ có 10 điều. Trong bộ luật có một số điều luật khá nghiêm khắc, nhất là về các tội phản nghịch, tội tuyên truyền “yêu ngôn, yêu thÆ°”. Tuy nhiên, bộ luật cÅ©ng đề cao việc chống tham nhÅ©ng và đặt ra nhiều điều luật nghiêm khắc để trừng trị tham quan. Tất nhiên, đến các đời vua sau Gia Long, bộ luật này cÅ©ng được chỉnh sá»­a và cải tiến nhiều, nhất là dưới thời Minh Mạng.

Ngoại giao

Với các nước lân bang

Cũng như các triều đại trước, nước đầu tiên mà Gia Long tiến hành ngoại giao là Trung Quốc. Tháng 5 năm 1802, sau khi lên ngôi vua, Gia Long cho một đoàn sứ giả đem đồ cống sang Quảng Đông cầu phong triều đình Trung quốc. Dẫn đầu đoàn sứ giả là Trịnh Hoài Đức chánh sứ, Ngô Nhân Tĩnh và Hoàng Ngọc Uẩn là phó sứ. Đoàn sứ giả sang Quảng Tây, quan lại nhà Thanh ở đây nhận chuyển đồ cống lên Bắc Kinh, còn giữ đoàn sứ ở lại Quảng Tây chờ lệnh triều đình có cho sứ giả lên Bắc Kinh triều yết hay không. Sứ đoàn này chưa hồi hương thì cuối năm đó vua Gia Long tiếp tục cử Binh bộ Thượng thư là Lê Quang Định sang cầu phong vua Gia Khánh nhà Thanh đổi quốc hiệu là Nam Việt. Sau những tranh luận về tên gọi, vì nhà Thanh ngại nhầm lẫn với nước Nam Việt xưa nằm ở Lưỡng Quảng và cuối cùng đồng ý đảo ngược lại thành Việt Nam, vua Thanh cho Tổng đốc Quảng Tây là Tề Bố Xâm sang làm lễ tấn phong cho Gia Long là Việt Nam quốc vương, ấn định thể lệ tiến cống hai năm một lần và cứ bốn năm một lần Việt Nam sẽ phái sứ bộ sang làm lễ triều kính.

Ngoài Trung Quốc, nhà Nguyễn còn qua lại với Xiêm La. Dù có xung đột từ thời kỳ chúa Nguyễn trước đó, nhưng đến khi Gia Long tị nạn ở Xiêm cho đến lúc lên ngôi, việc giao thiệp giữa triều Gia Long và Xiêm La vẫn giữ được sự hòa hảo. Từ năm 1802 trở đi hai bên vẫn có sự sứ bộ qua lại trao đổi thân thiện và tặng phẩm.

Tại Ai Lao, Việt và Xiêm cùng đặt ảnh hưởng, Quốc vương Ai Lao xin thần phục cả Việt lẫn Xiêm. Dân vùng Cam Lộ, dân ở các vùng cao nguyên hai tỉnh Thanh Nghệ, người Thượng (tức người Rhadé) ở các nước Thủy Xá và Hỏa Xá cũng có cống phẩm đến để tỏ lòng tuân theo chính quyền của triều Nguyễn. Thời vua Minh Mạng, nhiều xứ ở Ai Lao xin thuộc quyền bảo hộ của Việt Nam. Các vùng nay là Sầm Nứa, Trấn Ninh, Cam Môn và Savannakhet giáp với các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Trị, đều xin làm nội thuộc và trở thành các châu, phủ của Việt Nam.

Còn với Chân Lạp, khi vua Gia Long lên ngôi, nước Cao Miên tuy mất Thủy Chân Lạp cho người Việt nhưng vẫn phải chịu thần phục. Thời Minh Mạng, sau khi phá được quân Xiêm, Tướng Trương Minh Giảng và tham tán Lê Đại Cương lập đồn đóng quân ở gần Nam Vang để bảo hộ Chân Lạp.

Với phương Tây

Năm 1803, Anh Quốc sai sứ là Robert sang xin cho mở cửa hàng buôn bán ở Trà Sơn, thuộc Quảng Nam. Vua Gia Long không nhận đồ, và cũng không cho mở cửa hàng. Sau người Anh còn đưa thư sang hai ba lần nữa, nhưng vẫn bị từ chối. Đối với nước Pháp, vua Gia Long có thiện cảm hơn do khi ông còn gian truân có nhờ ông Bá Đa Lộc giúp đỡ. Khi chiến tranh kết thúc, các ông Chaigneau, Vannier và Despiau làm quan tại triều, Gia Long cho mỗi người 50 lính hầu và khi chầu thì không cần lạy Hoàng đế. Năm 1817, chính phủ Pháp phái tới Việt Nam chiếc tàu Cybèle để thăm dò bang giao. Thuyền trưởng là Achille De Kergariou nói rằng vua Louis XVIII sai sang xin thi hành những điều ước do Bá Đa Lộc ký năm 1787 về việc nhường cửa Đà Nẵng và đảo Côn Lôn. Vua Gia Long sai quan ra trả lời rằng những điều ước ấy nước Pháp trước đã không thi hành thì nay bỏ, không nói đến nữa .

Tuy nhiên, sá»± bành trướng của Châu Âu ở Đông Nam Á khiến Gia Long e ngại, nhất là sau khi nước Anh chiếm được Singapore. Nhà vua thấy rằng cần phải giao hảo với người Tây phÆ°Æ¡ng nhÆ°ng không thể biệt đãi một quốc gia đặc biệt nào. Năm 1819, John White, một thÆ°Æ¡ng gia Hoa Kỳ tới Gia Định và được hứa hẹn sẽ dành cho mọi sá»± dễ dàng khi buôn bán ở Việt Nam. Vua Minh Mạng không có cảm tình với người Pháp nhÆ° thái độ chung của người Á Đông lúc đó, coi người Âu Châu là bọn man di, là quân xâm lược . Ngoài ra ông cÅ©ng không thích cả Công giáo của châu Âu. Trong thời kỳ Minh Mạng nắm quyền, tín đồ Công giáo bị đàn áp quyết liệt và các giáo sÄ© nước ngoài đã so sánh ông với hoàng đế Nero của Đế quốc La Mã – một hoàng đế từng tàn sát hàng loạt giáo dân Công giáo. Với những người Pháp đã từng giúp vua Gia Long, Minh Mạng tỏ thái độ lạnh nhạt nên khi Chaigneau trở lại Việt Nam không được trọng dụng nữa. Minh Mạng cho Chaigneau hay rằng không cần phải ký thÆ°Æ¡ng ước giữa hai chính phủ, người Việt Nam vẫn đối xá»­ tốt đẹp với người Pháp là đủ, ông chỉ thỏa thuận mua bán với người Pháp nhÆ°ng không chấp nhận xây dá»±ng đặt quan hệ ngoại giao chính thức với nước Pháp, quốc thÆ° của Pháp xin cho ông Chaigneau làm Lãnh sá»± Pháp ở Việt Nam không được nhà vua đếm xỉa đến. CÅ©ng theo đường lối của hai triều Minh Mạng và Thiệu Trị, vua Tá»± Đức khước từ mọi việc giao thiệp với các nước ngoài, dầu việc giao thiệp chỉ nhằm phục vụ thÆ°Æ¡ng mại. Năm 1850 có tàu của nước Mỹ vào cá»­a Hàn có quốc thÆ° xin thông thÆ°Æ¡ng nhÆ°ng không được tiếp nhận.

Từ năm 1855 các nước Anh, Pháp, Tây Ban Nha nhiều lần có tàu vào cửa Hàn, cửa Thị Nại và Quảng Yên xin thông thương cũng không được. Sau khi Gia Định bị người Pháp chiếm, việc ngoại giao giữa triều đình với các nước phương Tây khó khăn, Tự Đức mới thay đổi chính sách, đặt ra Bình Chuẩn Ty để lo buôn bán và Thương Bạc Viện để giao dịch với người nước ngoài nhưng không có kết quả vì những người được ủy thác vào các việc này không được học gì về ngoại giao.

Kinh tế

Thương mại

Đồng tiền đúc ở thời Gia Long. Hai mặt trước sau với bốn chữ “Gia Long thông bảo” (嘉隆通寶) và “Thất phân” (七分).

ThÆ°Æ¡ng mại Việt Nam sau khi đất nước được thống nhất vẫn không phát triển lắm , tổ chức thÆ°Æ¡ng mại của người Việt sÆ¡ sài, trong phạm vi gia đình. Nếu có những hội buôn lớn thì cÅ©ng chỉ là những phường họp vài thÆ°Æ¡ng gia hùn vốn với nhau để kinh doanh rồi chia tiền ngay, không liên kết lại thành những hội buôn làm ăn lâu dài. Nhiều người Việt Nam dùng tiền của để mua ruộng đất chứ không đầu tÆ° kinh doanh, khuếch trÆ°Æ¡ng thÆ°Æ¡ng mại hay công nghệ. Việc buôn bán ở các chợ quy mô lớn do thÆ°Æ¡ng nhân Hoa kiều chi phối, dù những người này chỉ là thiểu số. Các mặt hàng tiêu dùng họ kinh doanh gồm có: mua thổ sản nhÆ° gạo, lúa, bắp, đường, hạt tiêu… và bán và nhập cảng trà, thuốc Bắc, vải, đồ đồng, giấy. Trong vùng nông thôn, hoạt động thÆ°Æ¡ng mại cÅ©ng chỉ nhằm trao đổi nông sản và hàng tiểu thủ công ở các chợ. Ở đó, ngoài những cá»­a hàng tạp hóa quy mô nhỏ hay các cá»­a tiệm bán thuốc Bắc, còn có những nông dân bán thổ sản và nông sản địa phÆ°Æ¡ng và một số thÆ°Æ¡ng nhân nhỏ bán vải vóc, hàng xén, cau thuốc, đi rong từ chợ này sang chợ khác. Theo sá»­ gia Trần Trọng Kim, người Việt Nam chỉ quanh quẩn trong nước, buôn bán những hàng hóa lặt vặt, nên bao nhiêu mối lợi lớn về tay người ngoài mất.

Nhìn chung, Gia Long không quan tâm đến thương mại . Ông đã nhiều lần từ chối người Anh khi họ đến xin được mua bán, ngay cả người Pháp khi đến mua bán cũng không được thuận lợi mấy , ông không cho phép người phương Tây lập phố buôn trên lãnh thổ Việt Nam, triều Nguyễn dưới thời ông không khuyến khích cũng như không chào mời các thuyền buôn phương Tây . Triều đình bấy giờ không có ý đóng cửa với phương Tây nhưng theo cách nhìn của hàng ngũ Nho sĩ ở Việt Nam, việc giao thương với phương Tây là không đáng tin cậy; cũng đồng thời với đó là sự lo ngại sự xâm lược bằng quân sự và truyền giáo của họ đã dẫn đến chính sách như trên.

Ngoài một số trung tâm thÆ°Æ¡ng mại thành thị được phát triển ở các thành phố và cảng biển chính, phần lớn hoạt động mua bán vẫn diễn ra trên các con sông. Triều đình nắm giữ độc quyền thÆ°Æ¡ng mại ở các mặt hàng có giá trị cao nhÆ° ngà voi, sừng nai, bạch đậu khấu, vàng… Mức thuế mua bán cao, việc cấp giấy phép khó khăn trong việc xuất khẩu gạo, muối, và kim loại cÅ©ng gây kìm hãm sá»± phát triển của thÆ°Æ¡ng mại . Ngoại thÆ°Æ¡ng bị hạn chế, dân chúng bị cấm giao thÆ°Æ¡ng bằng đường biển, triều đình cấm xuất khẩu các loại gỗ quý và đánh thuế cảng, thuế xuất khẩu cao; quan hệ thÆ°Æ¡ng mại quan trọng với Trung Quốc nằm trong tay các thÆ°Æ¡ng gia người Hoa và quan lại, trong khi các thÆ°Æ¡ng gia người Việt thì bị hạn chế ở mảng buôn bán trong nước .

Triều đình đã tổ chức nhiều chuyến đi công cán đến các nước trong khu vá»±c để thá»±c hiện giao dịch buôn bán. Năm 1824, Minh Mạng đã sai người đi công cán ở Hạ Châu (Singapore) và Giang LÆ°u Ba (Indonesia). Năm 1825, vua Minh Mạng phái người sang Hạ Châu mua vải và đồ thủy tinh. Sau đó, mỗi năm đều có quan viên được phái đi tới các trung tâm mậu dịch của người Âu ở khắp Đông Nam Á. Từ 1831-1832 trở đi, các chuyến công cán càng lúc càng nhiều, điểm đến cÅ©ng khá đa dạng: Hạ Châu, Lữ Tống (Luzon – Philippines), đảo Borneo, Quảng Đông, Giang LÆ°u Ba,… Trong khoảng 1835-1840 đã có 21 chiếc được cá»­ đi. Hàng bán ra chủ yếu là gạo, đường, lâm thổ sản quý, hàng mua về là len dạ và vÅ© khí, đạn dược. Các hoạt động này gần nhÆ° là độc quyền của triều đình dù tÆ° nhân không bị cấm. Dù vậy, nhiều thÆ°Æ¡ng nhân cÅ©ng lợi dụng các chuyến buôn bán này để buôn lậu gạo và thổ sản sang Hạ Châu hay Quảng Châu.

Hàng năm, thuyền buôn Trung Hoa thường đi lại giữa Việt Nam và Singapore. Thương nhân người Hoa thường lén chở gạo đi và đem thuốc phiện về. Trong những năm 1820-1830, giao dịch với Singapore rất hạn chế. Nguyên nhân do hàng hóa của Việt Nam phù hợp với thị trường Trung Hoa hơn. Khi người Pháp sắp chiếm hết Nam Kỳ, các bản lược kê tài chính cho thấy quan thuế hàng năm tương đương 3.000.000 france vàng trên tổng ngân sách 40.000.000 mà các quan viên đã giữ lại gấp đôi số tiền thuế kia, như vậy số tiền thu được vượt quá số tiền chuyển về triều đình rất nhiều. Từ thời Thiệu Trị, do xung đột với phương Tây từ nguyên nhân tôn giáo, quan hệ buôn bán với các nước này bị tổn hại. Năm 1850, Tự Đức không phái thuyền đi buôn ở Hạ Châu nữa. Triều đình cũng tìm cách cản trở dân thường buôn bán với người Tây nên cuối cùng, thương gia ngoại quốc chủ yếu là Hoa kiều, Xiêm và Mã Lai, trong đó người Hoa chiếm tỷ lệ lớn nhất.

Thủ công nghiệp

Áo hoàng bào bằng vóc được thêu thùa tinh xảo

Thủ công nghiệp Nhà nước thời Nguyễn chế tạo tất cả những đồ dùng cho hoàng gia, tham gia đóng thuyền cho quân đội, đúc vÅ© khí, đúc tiền,…

Nhà Nguyễn cÅ©ng tập trung xây dá»±ng hệ thống các xưởng thủ công Nhà nước, nhất là ở kinh đô và các vùng phụ cận. Năm 1803, Gia Long thành lập xưởng đúc tiền Bắc Thành tiền cục ở Thăng Long. Nhà Nguyễn cÅ©ng lập các Ti trông coi các ngành thủ công, nhÆ° ti VÅ© khố chế tạo quản lý nhiều ngành thủ công khác nhau, gồm 57 cục: làm đất, đúc, làm đồ vàng bạc, vẽ tranh, làm ngói, làm đồ pha lê, khắc chữ, đúc súng, làm trục xe, luyện đồng,… Ti Thuyền chịu trách nhiệm về các loại thuyền công và thuyền chiến, gồm 235 sở trên toàn quốc . Ngoài ra còn có các ti Doanh kiến, ti Tu tạo, ti ThÆ°Æ¡ng bác hoả dược.

Phần lớn nhân lá»±c trong các xưởng thủ công Nhà nước là do triều đình trÆ°ng dụng thợ khéo trong các ngành nhÆ° khảm xà cừ, kim hoàn, thêu thùa… tới làm việc để cung cấp đồ dùng cho triều đình. Đối với nghề đóng tàu, năm 1820 sÄ© quan người Mỹ, John White đã nhận xét: ” Người Việt Nam quả là những người đóng tàu thành thạo. Họ hoàn thành công trình của họ với một kỹ thuật hết sức chính xác.” Ngoài các thuyền gỗ, người thợ thủ công Việt Nam còn đóng cả các loại tàu lớn bọc đồng.

Ngoài ra họ đã sáng chế được nhiều máy móc tiên tiến và có chất lượng vào thời đó, ví dụ các máy cÆ°a xẻ gỗ, máy tưới ruộng… và cả máy hÆ¡i nước. . Trong ngành khai mỏ, đến ná»­a đầu thế ká»· 19, triều đình đã quản lý 139 mỏ, và năm 1833 có 3.122 nhân công trong các mỏ Nhà nước, tuy nhiên, phÆ°Æ¡ng thức khai mỏ thời bấy giờ vẫn kém phát triển so với thế giới.

Nông nghiệp

Triều Nguyễn có những chính sách Æ°u đãi để phát triển nông nghiệp, nhÆ° là cấm mua bán ruộng đất công, lập kho Thường bình, Sở Tịch điền, Sở Diễn canh, kho Bình thiếu, Sở Đồn điền, Đàn Xã tắc,… Năm 1828, Minh Mạng giao cho bộ Lễ soạn thảo chu đáo các điển lễ khôi phục lại nghi lễ Tịch điền và làm thành luật lệ lâu dài, cÅ©ng nhÆ° quy định rất nghiêm túc, cụ thể.

Về vấn đề ruộng đất, ngay khi mới lên ngôi, Gia Long đã phải ra lệnh cấm bán ruộng đất công và quy định chặt chẽ việc cầm cố loại công điền công thổ này để bảo đảm đất cày cho mọi người nông dân. Trải qua nội chiến, nhân dân lại gặp mất mùa liên tiếp. Triều đình thường phải giảm thuế, miễn thuế và phát chẩn. Thời Minh Mạng định lại phép quân cấp ruộng khẩu phần, quan lại, binh lính, công tượng (thợ làm quan xưởng) cùng các hạng dân đinh, không kể phẩm trật cao thấp đều được hưởng một phần khẩu phần nhưng quan lại, cường hào cũng giành được những phần tốt hơn. Người già, người tàn tật thì được nửa phần. Cô nhi, quả phụ được 1/3.

Tại miền Nam, nhà Nguyễn vẫn tiếp tục việc khai hoang và phục hóa, từ thời các chúa Nguyễn để lại như việc khẩn hoang, mở rộng, phát triển nông nghiệp. Ở Nam Kỳ, người dân đã tự do đến khẩn hoang với tư cách cá nhân hoặc tập thể dưới sự giúp đỡ của triều đình. Hai vị quan tổ chức khẩn hoang nổi tiếng nhất là Nguyễn Công Trứ và Nguyễn Tri Phương; trong đó Nguyễn Công Trứ nổi lên vì là tác giả của ba chính sách khẩn hoang lớn: đồn điền, doanh điền và khai khẩn ruộng hoang. Đồn điền là chính sách chủ yếu dựa vào việc mộ dân nghèo, đi cùng với tội phạm, binh lính để thực hiện việc khai khẩn đất hoang. Trong thời gian khẩn hoang số dân này sẽ được quản lý theo cung cách đồn điền; sau từ 6-10 năm để cuộc sống dân cư ổn định sẽ chuyển sang hình thức làng xã. Đồn điền xuất hiện nhiều nhất ở vùng Gia Định . Đợt lập đồn điền lớn nhất do Kinh lược sứ Nam Kì là Nguyễn Tri Phương tổ chức vào năm 1853-1854, lập được 21 cơ, 124 ấp phân phối ở cả sáu tỉnh . Doanh điền là hình thức khai hoang có sự kết hợp giữa triều đình và nhân dân, thực hiện di dân để lập ấp mới. Hình thức này bắt đầu được thực hiện từ năm 1828 dưới thời vua Minh Mạng theo đề nghị của Tham tán quân vụ Bắc thành Nguyễn Công Trứ. Theo đó, triều đình sẽ bỏ vốn ban đầu và cử ra một quan chức sẽ dứng ra chiêu mộ và chỉ đạo dân chúng đưa đi khai hoang Chính sách đồn điền và doanh điền được triều đình kèm theo một loạt luật lệ thưởng phạt phân minh để khai thác triệt để đất đã vỡ hoang và ngăn tình trạng bỏ đất nhưng cũng không dứt hẳn được hiện tượng ruộng hoang .

Ngoài ra, triều đình nhà Nguyễn còn khuyến khích nhân dân tự do khai hoang kết hợp phục hóa. Việc đinh điền cũng có chỉnh đốn và kiểm soát chặt chẽ hơn. Ruộng đất ở Nam Việt thời vua Minh Mạng được đo đạc lại, tính ra được 630.075 mẫu. Tổng số đinh toàn quốc là 970.516 suất và 4.063.892 mẫu ruộng đất. Triều đình nhà Nguyễn dành cho việc khai hoang, phục hóa rất nhiều sự quan tâm, họ đã cho tiến hành nhiều chính sách khai khẩn hoang khác nhau và đã đem lại nhiều kết quả tốt đẹp. Diện tích ruộng đất thực trưng tăng lên nhiều: năm 1847 là 4.273.013 mẫu. Tuy nói trên toàn diện, đất công điền không quá 1/5 diện tích canh tác, nhưng phần đất còn lại được phân phối giữa các nông dân mà đa số chỉ làm chủ tới 5 mẫu là nhiều. Hạng người có 100 mẫu trở lên thì rất ít, mỗi tỉnh có nhiều nhất là 5, 3 người.

Văn hóa và giáo dục

Giáo dục

Lễ xướng danh trường thi Hương tại Nam Định năm Mậu Tý (1888)

Vua Gia Long rất đề cao Nho học, cho lập Văn Miếu ở các doanh, các trấn thờ đức Khổng Tử và lập Quốc Tử Giám năm 1803 ở Kinh thành Huế để dạy cho các quan và các sĩ tử, mở khoa thi Hương lấy những người có học, có hạnh ra làm quan. Cũng trong năm này, Gia Long cũng cho ban hành hai đạo dụ về việc mở các trường ở các tỉnh, ấn định nhân viên giáo giới và chương trình học chế đồng thời tái lập lại các khoa thi ở các trấn. Ở mỗi trấn có một quan Đốc Học, một phó Đốc Học hay Trợ Giáo. Cứ tháng 10 hàng năm triều đình mở một kỳ thi. Theo thông lệ cứ ba năm triều đình mở khoa thi Hương ở các địa phương. Những người trúng cao ở khoa thi Hương gọi là cử nhân, trúng thấp gọi là tú tài. Năm sau ở Kinh đô mở khoa thi Hội tại bộ Lễ, những cử nhân năm trước khi ứng thí, nếu trúng cách thì được tiếp tục thi Đình ở trong điện nhà vua để lấy các bậc Tiến sĩ.

Trong dân chúng, việc học tập có tính chất tự do hơn. Bất kỳ người nào có học lực kha khá cũng có thể mở trường tư thục để dạy học. Mỗi làng có vài ba trường tư thục, hoặc ở nhà thầy, hoặc ở nhà người hào phú nuôi thầy cho con học và cho con các nhà lân cận đến học. Theo ông Trần Trọng Kim thì người Việt Nam vốn chuộng sự học, cho nên người đi học cũng nhiều. Dù vậy, việc học tập càng lúc càng thoái hóa do nội dung học chỉ tập trung vào thơ phú và các tác phẩm cổ, không áp dụng được gì nhiều trong thực tế. Nhiều người học chỉ để đi thi, mong được làm quan. Trần Trọng Kim cho rằng:

Ống quyển, ống bút, nghiên má»±c, hòm sách- những “đồ nghề” của một sÄ© tá»­ thời Nguyễn

Thời vua Minh Mạng, ông muốn canh tân việc học hành thi cử nhưng lại không biết tiến hành ra sao bởi triều thần của ông phần nhiều chỉ là những hủ nho lạc hậu, không giúp đỡ được nhà vua một kế hoạch nào cho quốc phú dân cường, ông nói rằng:

Văn học

Cảnh vườn Thư quang trong cuốn Ngự đề Đồ Hội Thi Tập, tập thơ ngự chế Thần kinh nhị thập cảnh của vua Thiệu Trị.

Văn học nhà Nguyễn có thể chia làm các thời kỳ như sau: thời Nguyễn sơ, thời kỳ nhà Nguyễn còn độc lập và thời kỳ nhà Nguyễn thuộc Pháp. Thời Nguyễn sơ là thời kỳ của các nhà thơ thuộc hai nguồn gốc chính là quan của vua Gia Long và các cựu thần nhà Hậu Lê bất phục nhà Nguyễn. Tiêu biểu cho thời kỳ này là các tác giả: Phạm Quy Thích, Nguyễn Du, Trịnh Hoài Đức và Lê Quang Định . Nội dung tiêu biểu cho thời kỳ này là nói về niềm tiếc nhớ Lê triều cũ và một lãnh thổ văn chương Việt Nam mới hình thành ở phương Nam. Thời nhà Nguyễn độc lập là thời của các nhà thơ thuộc đủ mọi xuất thân trong đó có các vua như Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, và các thành viên hoàng tộc như Tùng Thiện Vương Nguyễn Phúc Miên Thẩm. Các nho sĩ thì gồm có Nguyễn Văn Siêu, Cao Bá Quát, Hà Tôn Quyền, Trương Quốc Dụng, Phan Thanh Giản, Phạm Phú Thứ . Hai thể kiểu thơ chủ yếu của thời kỳ này là thơ ngự chế của các vị vua và các thi tập của nho sĩ . Thời nhà Nguyễn thuộc Pháp là thời kỳ ảnh hưởng của hoàn cảnh lịch sử đương thời tác động rất lớn vào văn chương, các nhà thơ sáng tác nhiều về cảm tưởng của họ đối với quá trình Pháp chiếm Việt Nam . Tác giả tiêu biểu thời kỳ này gồm Nguyễn Tư Giản, Nguyễn Thông, Nguyễn Khuyến, Dương Lâm, Nguyễn Thượng Hiền.

Thời kỳ nhà Nguyễn, văn học phát triển trong cả Hán văn, lẫn một cách mạnh mẽ ở chữ Nôm với nhiều thành tựu lớn, trong đó tác phẩm chữ nôm tiêu biểu nhất là Truyện Kiều và Hoa Tiên. Hai thể theo được dùng phổ biết ở thời kỳ này là lục bát và lục bát gián cách, sử dụng một thứ tiếng Việt mới có một trình độ rất cao . Ở miền Nam Việt Nam, thành hình một lãnh thổ văn chương mới với nhiều nét độc đáo riêng so với các vùng cũ . Về nội dung, ngoài các nội dung văn chương mang đậm tư tưởng Nho giáo truyền thống thì số phận con người và phụ nữ cũng được đề cập đến .

Khoa học, kỹ thuật

Sử học

Phu Văn Lâu, nơi niêm yết những chỉ dụ quan trọng hoặc kết quả các kỳ thi do triều đình tổ chức

Ngay từ cuối thế kỷ XVIII, Sử học là một trong những ngành khoa học rất phát triển. Sang đầu thế kỷ XIX, dưới thời nhà Nguyễn, ngành này lại càng phát triển hơn, có thể nói đó là ngành phát triển nhất thời vương triều Nguyễn. Đặc biệt khi cơ quan phụ trách sử học là Quốc sử quán ra đời năm 1820 dưới thời vua Minh Mạng với nhiệm vụ thu thập các bộ sử xưa, in lại Quốc sử thời Lê và biên soạn các bộ sử mới. Quốc sử quán phải nói là được tổ chức kỷ cương, hoạt động một cách đầy hiệu quả. Vương triều Nguyễn đã cho lập các kho tàng lưu trữ các sáng tác từ cổ chí kim.

Sử học nhà Nguyễn có các thành tựu sau:

  • Tìm kiếm, lÆ°u trữ và cho in lại các tác phẩm sá»­ học của các triều đại trước .
  • Biên soạn nhiều bộ sá»­ khổng lồ và các công trình sá»­ học có giá trị lớn nhÆ°: Khâm định Việt sá»­ Thông giám CÆ°Æ¡ng mục, Đại Nam liệt truyện, Đại Nam Thá»±c lục – Tiền biên và chính biên , Khâm định tiễu bình lưỡng kỳ phỉ khẩu phÆ°Æ¡ng lược, Bản triều bạn nghịch liệt truyện… Các nhà sá»­ học cÅ©ng cho ra đời nhiều công trình của cá nhân nhÆ° Lịch triều tạp ká»· của Ngô Cao Lãng, Sá»­ học bị khảo của Đặng Xuân Bản, Quốc sá»­ dÄ© biên của Phan Thúc Trá»±c,… và nhất là Lịch triều hiến chÆ°Æ¡ng loại chí của Phan Huy Chú . Trong đó, Đại Nam thá»±c lục chính biên có tới 587 quyển.
  • Các công trình địa phÆ°Æ¡ng chí, và gia phả các dòng họ cÅ©ng xuất hiện rất nhiều.
    • Việc biên soạn các bộ địa phÆ°Æ¡ng chí gần nhÆ° thành phong trào: từ các tỉnh lớn cho đến tận các huyện xã cÅ©ng có chí. Trong đó có rất nhiều bộ chí được biên soạn khá công phu với nhiều chi tiết quý mà các bộ sá»­ lớn không có. Tiêu biểu cho địa phÆ°Æ¡ng chí là Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức, Nghệ An ký của Bùi DÆ°Æ¡ng Lịch
    • Thể loại Gia Phả thì có Mạc Thị Gia phả của VÅ© Thế Dinh .
  • Ngoài ra còn có các tác phẩm soạn theo kiểu quy cách nhiều vấn đề khác nhau của lịch sá»­, nổi bật của thể loại này là bô Lịch triều Hiến chÆ°Æ¡ng loại chí của ông Phan Huy Chú .

Năm 1942, Giám đốc Nhà lưu trữ Đông Dương Paul Boudet cho biết rằng các tài liệu trước thế kỷ XIX (thời Nguyễn) chỉ còn lưu lại được khoảng 20 bản. Từ triều vua Minh Mạng, công tác lưu trữ mới được quan tâm. Cũng năm 1942, số lượng địa bạ ở Tàng thư lâu giữ được có tới 12.000 quyển.

Địa lý và Lịch sử

Thời Nguyễn cÅ©ng là thời có nhiều tác phẩm địa lý học lớn nhÆ° bộ Hoàng Việt Nhất thống dÆ° địa chí do Thượng thÆ° Lê Quang Định soạn theo lời của vua Gia Long. Sau đó cÆ¡ quan Quốc sá»­ quán triều Nguyễn cÅ©ng soạn tiếp nhiều công trình khác gồm Đại Nam nhất thống toàn đồ, Đại Nam nhất thống chí. Ngoài ra, còn có nhiều tác phẩm có giá trị cao khác ngoài Quốc sá»­ quán nhÆ° Bắc Thành địa dÆ° chí và Hoàng Việt dÆ° địa chí của Phan Huy Chú; PhÆ°Æ¡ng Đình dÆ° địa chí của Nguyễn Văn Siêu ; Đại Việt cổ kim duyên cách địa chí khảo và Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức; Nam Hà tiệp lục của Quốc sá»­ quán,… Ngoài ra thời Minh Mạng cÅ©ng xuất hiện rất nhiều bản đồ về các địa phÆ°Æ¡ng của nước Đại Nam thời kỳ đó.

Nhìn chung, theo nhận xét của Dương Quảng Hàm thì tuy có nhiều giá trị nhưng do vẫn còn thiếu một phương pháp nghiên cứu khoa học tốt nên các tác phẩm về sử học và địa lý thời kỳ này vẫn có nhiều khuyết điểm. Dù vậy, các triều đại trước cũng không khá hơn nhà Nguyễn trong việc này.

Kỹ thuật công nghệ

Từ các cuộc nội chiến ở Đại Việt trước, kỹ thuật công nghệ của phÆ°Æ¡ng Tây đã được các vua chúa đem vào Việt Nam rất nhiều đặc biệt trong lÄ©nh vá»±c quân sá»±. Thời nhà Nguyễn vẫn kế thừa những thứ đã du nhập ấy, nhiều công trình được xây dá»±ng theo kiểu kiến trúc Vauban của phÆ°Æ¡ng Tây nhÆ° thành Bát Quái, kinh thành Huế, thành Hà Nội…Thời Gia Long đã từng cho đóng một loại thuyền lớn bọc đồng để tuần tra biển .

Sang đến thời Minh Mạng, nhiều máy móc mang tính mới mẻ đã được chế tạo gồm: máy cÆ°a chạy bằng sức trâu và sức nước, máy xẻ gỗ chạy bằng sức trâu . Cụ thể là, năm 1834, Nguyễn Viết Tuý dưới sá»± đồng ý của vua Minh Mạng đã chế tạo ra chiếc máy nghiền thuốc súng bằng sức nước mang tên Thuá»· hoả ký tế. Sau đó những năm 1837-38, theo mẫu của phÆ°Æ¡ng Tây, thợ thủ công Nhà nước đã chế tạo được máy cÆ°a văn gỗ, xẻ gỗ bằng sức nước, máy hút nước tưới ruộng,… và còn có cả xe cứu hoả. Đặc biệt là năm 1839, dá»±a theo các kiểu phÆ°Æ¡ng Tây, các đốc công Hoàng Văn Lịch, VÅ© Huy Trịnh cùng các thợ của ông đã đóng thành công chiếc tàu máy hÆ¡i nước đầu tiên, được vua Minh Mạng hết sức khen ngợi. Năm sau, Minh Mạng lại chỉ đạo cho họ đóng một chiếc kiểu mới tân tiến hÆ¡n và sá»­a chữa một chiếc bị hỏng. Điểu đáng tiếc là sau đó mọi việc dường nhÆ° bị đình lại. Thời Tá»± Đức, nhiều sách kỹ thuật phÆ°Æ¡ng Tây được dịch sang tiếng Hán nhÆ° Bác Vật tân biên, Khai Môi yếu pháp, Hàng hải Kim châm . NhÆ°ng một điều đáng tiếc là những tiến bộ này vẫn chÆ°a kịp tác động vào quá trình phát triển của xã hội Việt Nam. Đến giữa thế ká»· XIX, Việt Nam vẫn là một quốc gia với nền sản xuất nông nghiệp chậm tiến so với thế giới phÆ°Æ¡ng Tây.

Kiến trúc

Sơ đồ Thành Bát Quái Sài Gòn do Trương Vĩnh Ký vẽ, Nguyễn Đình Đầu lược dịch và chú giải

Nhà Nguyễn là triều đại có nhiều đóng góp trong lịch sử Việt Nam, đặc biệt là một kho tàng kiến trúc đồ sộ, mà tiêu biểu là quần thể kinh thành Huế và nhiều công trình quân sự khác

Kinh thành Huế nằm ở bờ Bắc sông Hương với tổng diện tích hơn 500 ha và 3 vòng thành bảo vệ. Kinh thành do vua Gia Long bắt đầu cho xây dựng năm 1805 và được Minh Mạng tiếp tục hoàn thành năm 1832 theo kiến trúc của phương Tây kết hợp kiến trúc thành quách phương Đông. Trải qua gần 200 năm khu kinh thành hiện nay còn hầu như nguyên vẹn với gần 140 công trình xây dựng lớn nhỏ. Kiến trúc cung đình Huế đã tiếp thu và kế thừa kiến trúc truyền thống thời Lý, Trần, Lê đồng thời tiếp thu tinh hoa của Mỹ thuật Trung Hoa nhưng đã được Việt Nam hóa. Huế cũng đã được hiện đại hóa bởi những công trình sư người Pháp phục vụ dưới thời vua Gia Long. Khi xây dựng hệ thống thành quách và cung điện, các nhà kiến trúc dưới sự chỉ đạo của nhà vua đã bố trí trục chính của công trình theo hướng Tây Bắc- Đông Nam. Yếu tố Ngũ hành quan trọng trong bố cục mặt bằng của kiến trúc cung thành tương ứng với ngũ phương.

Thành Gia Định là một công trình là một cồn trình phòng thủ quân sá»±, được Nguyễn Phúc Ánh ra lệnh xây dá»±ng tại làng Tân Khai, huyện Bình DÆ°Æ¡ng, đất Gia Định, sau này là Sài Gòn, kể từ ngày 4 tháng 2 năm 1790 theo kiến trúc hỗn hợp Đông-Tây, dá»±a trên một bản thiết kế của một người Pháp là Olivier de Puymanel (Việt danh là Ông Tín). Thành được xây có 8 cạnh nên gọi là “Bát Quái”. Thành còn có tên khác là “Thành Quy”. Thành có 8 cá»­a, phía nam là cá»­a Càn Nguyên và cá»­a Li Minh, phía bắc là cá»­a Khôn Hậu và cá»­a Khảm Hiền, phía đông là cá»­a Chấn Hanh và cá»­a Cấm Chí, phía tây là cá»­a Tốn Thuận và cá»­a Đoài Duyệt. Thời Minh Mạng đổi tên các cá»­a: phía nam là cá»­a Gia Định và cá»­a Phiên An, phía bắc là cá»­a Củng Thần và cá»­a Vọng Thuyết, phía đông là cá»­a Phục Viễn và cá»­a Hoài Lai, phía tây là cá»­a TÄ©nh Biên và cá»­a Tuyên Hóa. Ngày 18 tháng 3 năm 1859, quân Pháp đốt cháy kho tàng, phá hủy thành Sài Gòn và rút ra để tránh quân triều đình nhà Nguyễn tấn công đánh chiếm lại thành. Dấu tích duy nhất ngày nay còn lại là bức tranh vẽ ảnh thá»±c dân Pháp tấn công thành và những tàn tích dọc đường Đinh Tiên Hoàng về phía gần xưởng Ba Son.

Các phong trào khởi nghĩa chống triều đình

Nhà Nguyễn cũng là triều đại chứng kiến các cuộc nổi dậy của nông dân cũng như các tầng lớp khác bùng nổ dữ đội, nhất là ở Bắc Hà. Các nhà sử học tính rằng số lượng các cuộc nổi dậy nửa đầu thế kỷ 19 còn nhiều hơn toàn thế kỷ 18. Từ năm 1802 cho tới năm 1862, tại Bắc Hà có từ 350 cho tới 400 cuộc nổi dậy của nông dân nổ ra. Trong số đó có 50 cuộc diễn ra dưới thời Gia Long từ 1802-1820, 254 cuộc dưới thời Minh Mạng (1820-1840), 58 cuộc dưới thời Thiệu Trị (1840-1847) và 40 cuộc nổi dậy dưới thời Tự Đức (1847-1862). Dù vậy, trong số này cũng đã tính luôn cả các vụ nổi dậy liên quan tới vấn đề Công giáo, các phong trào phù Lê diệt Nguyễn của dân Bắc Hà, các toán cướp nổi lên hùng cứ địa phương, các toán tàn quân Thái Bình Thiên Quốc vượt biên vào cướp và cả những vụ bạo loạn như của Lê Duy Phụng do thực dân Pháp kích động để rảnh tay xâm chiếm Việt Nam.

Những cuộc nổi dậy ở Bắc Hà dưới thời vua Minh Mạng suốt Trung, Nam, Bắc, kể từ năm 1822 theo sử gia Phạm Văn Sơn đã do nhiều nguyên nhân:

  • Về phía ngoại bang, nước Xiêm La vẫn giữ thái độ hằn học về vấn đề Chân Lạp nên ngoài mặt tuy êm dịu nhÆ°ng bên trong Xiêm La vẫn tìm cÆ¡ hội để quấy rối Việt Nam.
  • Ngoài Bắc, một phần nhân tâm còn luyến tiếc Lê triều, vẫn chờ dịp nổi lên chống lại nhà Nguyễn và để khôi phục lại dòng họ Lê.
  • Bọn quan lại hay nhÅ©ng nhiễu dân chúng, dèm pha nhau, tâng công, nịnh hót mà nhà vua lại thường không minh, nhất là đối với kẻ công thần. Nhiều người trung lÆ°Æ¡ng đâm ra chán nản, trái lại phe gian nịnh nẩy nở mỗi ngày một nhiều, nước tất nhiên phải sinh loạn do đó ngoại quốc mới dám nhòm ngó vào.

Nguyên nhân chính làm bùng nổ nhiều cuộc nổi dậy là vấn đề kinh tế và đời sống khó khăn của người dân:

  • Một giáo sÄ© người Pháp tên Guérard nhận xét rằng Gia Long đánh thuế quá nặng và bắt dân chúng lao dịch quá nhiều, sá»± bất công và lộng hành của quan lại làm cho người dân khổ cá»±c. Ông viết: “Vua Gia Long bóp nặn dân chúng bằng đủ mọi cách, sá»± bất công và lộng hành làm cho người ta rên xiết hÆ¡n cả ở thời Tây SÆ¡n; thuế má và lao dịch thì tăng lên gấp ba” . Việc xây thành Phú Xuân và đào kênh VÄ©nh Tế phải huy động hàng vạn dân phu đi lao dịch. Một người Pháp là Borel viết năm 1818 mô tả việc xây thành Phú Xuân (Huế): “Nhà vua sá»­ dụng tất cả nhân lá»±c vào việc xây tòa thành và các công trình công cộng khác. Khi tôi đến Huế, đã có đến 8 vạn người được điều động từ các nÆ¡i trong cả nước đang khẩn trÆ°Æ¡ng xây dá»±ng một tòa thành rộng lớn bằng gạch… Riêng việc xây bờ thành đã tốn kém những khoản tiền khổng lồ và làm thiệt hàng ngàn nhân mạng vì phải khổ dịch liên tục… Nhà vua [Gia Long] đã vung ra những món tiền lớn và hy sinh tính mạng của hàng ngàn dân chúng vì họ phải làm việc không nghỉ tay trên các tường lÅ©y của kinh thành. Đây quả là một công trình kỳ diệu. Mười vạn người được thường xuyên huy động”
  • Sá»± tham nhÅ©ng của quan lại cÅ©ng là một nguyên nhân, nhÆ° Chaigneau người Pháp đã ghi lại năm 1807: “Dân chúng hết sức khốn khổ, vua và quan lại làm khổ dân một cách kỳ lạ; công lý này tùy thuộc tiền bạc, kẻ giàu có thể đánh đập người nghèo mà không sợ bị trừng phạt gì, vì họ tin chắc nhờ tiền bạc họ sẽ thắng kiện.”
  • Nạn đói thường xuyên đe doạ cuộc sống của người nông dân. Theo lời tâu của Nguyễn Công Trứ vào năm 1833, dân đói đến tỉnh Hải DÆ°Æ¡ng kiếm ăn có tới 27.000 người. Trận bão đổ bộ vào tỉnh Nghệ An 1842 đã làm cho 40.753 ngôi nhà bị đổ, 5.420 người bị chết, cùng với đói kém, mất mùa, lụt lội và bệnh dịch. Trận dịch xảy ra năm 1840, riêng ở Bắc Kì số người chết đã lên tới 67.000.

Các cuộc khởi nghĩa cuối cùng đều bị thất bại, nhưng đã khiến cho nhà Nguyễn suy yếu, lâm vào tình trạng bất ổn triền miên.

Tại Bắc Kỳ

Ngay từ khi mới cầm quyền, nhà Nguyễn đã gặp phải sự chống đối hết sức quyết liệt từ nhiều lực lượng xã hội khác nhau. Năm 1803, một số tướng lĩnh cũ của nhà Tây Sơn do Nguyễn Văn Tuyết cầm đầu đã nổi dậy ở Kinh Môn, Hải Dương. Sau là cuộc khởi nghĩa của Vũ Đình Lục và Đặng Trần Siêu ở Sơn Nam (Thượng du Thanh Hoá), liên tục hoạt động cho đến năm 1824. Tiếp theo là phong trào nông dân ở miền xuôi, vùng đồng bằng Bắc Kỳ và Bắc Trung Kỳ: Nguyễn Đức Khoa, Tổng Thái, Tú Bích ở Kinh Bắc, Trần Lệ Quyên, Đỗ Hoàng Thân ở Sơn Tây, Nguyễn Thế Chung ở Sơn Nam, Nguyễn Trấn, Lê Hữu Tạo, Ninh Đãng Tạo, Phan Bô ở Nghệ An.

Một số cuộc nổi dậy lớn kế tiếp là cuộc nổi dậy của Phan Bá Vành ở Nam Định (1821-27), Lê Duy LÆ°Æ¡ng ở Ninh Bình (1833-1834), Nông Văn Vân ở Tuyên Quang (1833-35) và của Cao Bá Quát (1854-56) ở Hà Nội, đặc biệt là phong trào bạo loạn do Lê Duy Phụng dẫn đầu (1861-1865) trên khắp lãnh thổ Bắc Kỳ. Ngoài ra vụ nổi dậy của Lê Duy LÆ°Æ¡ng năm 1832 ở Ninh Bình, là con cháu nhà Lê khiến vua Minh Mạng phải yêu cầu Tổng Đốc Nghệ TÄ©nh là Tạ Quang Cá»± cùng với Tổng Đốc Thanh Hóa là Nguyễn Văn Trọng đem quân ra Ninh Bình bắt được Lê Duy LÆ°Æ¡ng giải về Kinh trị tội và tất cả con cháu Lê bị lÆ°u đày ở Quảng Nam, Bình Định. Chính sách “Phù Lê” của nhà Nguyễn đã chấm dứt.

Khi vua Tự Đức lên ngôi đã cử những danh thần của triều đình làm quan Kinh Lược Đại sứ để đi kiểm tra, khám xét công việc ở các nơi trong cả nước. Nguyễn Tri Phương ở Nam Kỳ, Phan Thanh Giản coi ba tỉnh Nam Trung Việt, Nguyễn Đăng Giai kiểm soát ba tỉnh phía Bắc miền Trung. Nhưng từ năm 1851 nhiều cuộc nổi dậy diễn ra ở nhiều nơi, nhất là ở Bắc Kỳ bởi lòng dân ở đây còn tưởng nhớ đến nhà Lê, phá chính quyền triều Nguyễn. Có vài vụ nổi dậy mà người lãnh đạo tự xưng mình thuộc dòng dõi nhà Lê như quân của Lê Duy Phụng, lôi cuốn được khá nhiều người tham gia. Ngoài ra triều đình còn phải lo đối phó dư đảng Thái Bình Thiên Quốc do Hồng Tú Toàn tổ chức chống lại nhà Thanh bị bại tràn sang Việt Nam. Tàn quân Thái Bình Thiên Quốc cướp phá các vùng thượng du khiến quân đội nhà Nguyễn phải đi đánh dẹp rất phiền phức.

Ngoài mục đích chính trị thì một phần cũng do dân chúng phải chịu nhiều thiên tai như lũ lụt liên miên. Đê Văn Giang vỡ liên tiếp 18 năm lại thuộc tỉnh Hưng Yên là nơi đông dân nhất Bắc Kỳ nên làm phát sinh rối loạn. Thời kỳ này còn có quân Tam Đường do ba lãnh tụ: Quảng Nghĩa Đường, Lục Thắng Đường, Đức Thắng Đường nổi lên tại Thái Nguyên được quan Kinh Lược Nguyễn Đăng Giai đến phủ dụ nên đất Bắc được yên ổn. Khi Nguyễn Đăng Giai qua đời (1854), Bắc Kỳ lại mất an ninh, trật tự như cũ.

Khác với các cuộc nổi dậy khác, cuộc nổi dậy của nhóm Lê Duy Cá»± và Cao Bá Quát không cướp của giết người nhÆ° những vụ loạn khác mà do sá»± bất mãn với triều đình, mục tiêu của họ là lật đổ chính quyền nhà Nguyễn. Bởi cuộc khởi nghÄ©a của Lê Duy Cá»± bùng ra cuối năm ấy mà khoảng tháng 5 có châu chấu phá hoại mùa màng dữ dội nên người ta gọi vụ này là “giặc châu chấu”.

Những cuộc nổi dậy này nhiều lúc dân nghèo đã phối hợp với quân lưu manh, đạo tặc để chống đối nên tuy làm cho Triều đình khốn đốn nhưng vì không có tổ chức chặt chẽ, kỷ luật nghiêm minh, không có hiệu lệnh thống nhất, trước sau đều thất bại.

Ngoài các cuộc nổi dậy của nông dân ở Bắc Kỳ còn có cả những bọn hung đồ nhân cơ hội Triều đình suy yếu, nổi lên tứ tung để cướp phá và lợi dụng dân lưu vong để rủ họ theo. Ngoài ra cũng có cũng có những người bị quân Pháp mua chuộc để quấy rối triều Nguyễn cho họ dễ hành động. Chưa kể còn có quân giặc người Tàu hoành hành ở miền thượng du Bắc Kỳ. Những cuộc biến động này khiến Triều đình phải dụng binh rất lâu, hao tổn binh lực và tài lực rất nhiều.

Năm 1861, với chính sách của Triều đình Huế gia giảm các chương trình phúc lợi, giải tán các cộng đồng Công giáo, gia tăng kiểm soát mua bán lương thực, tăng thuế, cộng với nạn giặc cướp Khách đánh phá mạn ngược và bọn cướp biển Tàu Ô đánh cướp các làng ven biển, khiến tình hình miền bắc càng trở nên nguy hiểm, có thể bùng nổ bất kỳ lúc nào. Các thành phần bị ảnh hưởng nặng nề nhất, dễ nổi lên đối kháng nhất là những nông dân bị nạn lũ lụt, các tộc người thiểu số nghèo khổ và các cộng đồng Công giáo bị ngược đãi. Đây là những nhân tố khiến cho cuộc nổi dậy do Lê Duy Phụng cầm đầu đặc biệt nguy hiểm, khiến triều đình Huế phải hết sức vất vả mới đánh dẹp được.

Tại Nam Kỳ

Tại Nam Kỳ ít xảy ra các cuộc nổi dậy chống triều đình hơn, nhưng số vụ nổi dậy cũng khá nhiều.

Cuộc Nổi dậy ở Đá Vách đã nổ ra, kéo dài ngay từ buổi đầu triều đại vua Gia Long đến suốt hÆ¡n ná»­a thế ká»·. . Ngay từ khi lên ngôi, vua Gia Long đã ký ban hành các loại thuế đánh vào lâm thổ sản ở vùng này, làm cho “dân Man quanh năm nộp thuế không lúc nào rỗi , hậu quả là: “dân phải nhặt củ rau và quả ở núi để ăn cho no bụng” . Các vua đầu thời Nguyễn còn mắc sai lầm khi cho rằng: Bọn man mọi ngu dại chÆ°a thấm nhuần phong hóa, cần buộc họ cắt tóc, ăn mặc và sinh hoạt giống nhÆ° người miền xuôi. Tất cả đã làm cho người dân Đá Vách nung nấu căm thù, dẫn đến nhiều cuộc giao chiến suốt hÆ¡n 50 năm, bất chấp mọi biện pháp trấn áp và chia rẽ của triều đình nhà Nguyễn. Các vụ nổi dậy vào các năm 1803, 1804, 1806, 1807 đã làm cho quan quân nhà Nguyễn thiệt hại không ít.

Cuộc nổi dậy Lê Văn Khôi là một cuộc nổi dậy xảy ra vào thời vua Minh Mạng ở các tỉnh miền Nam Việt Nam. Lãnh đạo của cuộc nổi dậy này là Lê Văn Khôi nhóm họp những phần tử về phái địa phương phân quyền của Lê Văn Duyệt và những tù nhân Bắc Kỳ bị đi đày để nổi dậy . Được võ quan, binh lính và dân chúng Phiên An vốn cảm tình với Lê Văn Duyệt đi theo rất đông nên quân nổi dậy từng đánh chiếm được 6 tỉnh phía Nam nhưng sau đó triều đình đã nhanh chóng thu phục các tỉnh này, dồn quân nổi dậy vào cố thủ ở thành Phiên An năm 1835 khi thành Phiên An thất thủ.

Ngoài ra, tại Nam Kỳ, chính sách không phù hợp của nhà Nguyễn với người thiểu số, đặc biệt là người Khmer và chính sách đối ngoại với vương quốc Chân Lạp cũng gây bất mãn trong cộng đồng người Khmer, dẫn đến nhiều cuộc nổi dậy chống lại triều đình, như các cuộc nổi dậy Lâm Sâm, Ba Xuyên, Thất Sơn, Hà Tiên.

Thời kỳ bị Pháp xâm lăng và đô hộ

Cuộc chiến chống Pháp xâm lăng

Tình trạng của nhà Nguyễn

Do những việc cấm đạo và tàn sát giáo dân của vua Minh Mạng mà ngay trong năm 1838 đã có sĩ quan Hải quân Fourichon đề nghị nước Pháp gửi Hải quân tới can thiệp nhưng bị Ngoại trưởng Pháp là Guizot bác bỏ. Dư luận Pháp thì sôi động vì sự ngược đãi giáo dân của Minh Mạng nên ủng hộ đề nghị dùng vũ lực. Khi Thiệu Trị nối ngôi có thái độ mềm mỏng hơn, cho thả một số linh mục bị bắt và tỏ ý sẽ cho tàu sang Châu Âu mua bán nhưng sự kiện đụng độ tại Đà Nẵng năm 1847 giữa tàu Pháp và Việt khiến nhà vua tức giận và ông ra lệnh xử tử ngay tại chỗ tất cả người Âu bắt được tại Việt Nam.

Chiến hạm Pháp tấn công Gia Định năm 1859

Khi Tự Đức lên cầm quyền, triều đình vẫn cai trị tuân theo phong cách Nho giáo . Triều đình không có một biện pháp nào đối phó với phương Tây, ngược lại chỉ cấm đạo và cấm mua bán quyết liệt hơn trước . Nhân vụ An Phong Công Hồng Bảo mưu phản, tìm cách liên hệ với các giáo sĩ để soán ngôi mà nhà vua cho công bố 2 đạo dụ cấm đoán Công giáo các năm 1848 và 1851, từ 1848-1860, đã có hàng vạn giáo dân bị tàn sát hay lưu đày. . Cũng đồng thời lúc này, trước tình hình người Pháp xâm lấn trong triều đình đặt ra vấn đề cải cách: liên tiếp các năm 1864, 1866, 1868, 1867, 1881 các quan là Phan Thanh Giản, Phạm Phú Thứ, Nguyễn Trường Tộ, Đinh Văn Điền, Nguyễn Hiệp, Lê Định liên tiếp dâng sớ xin nhà vua cho cải cách toàn diện đất nước nhưng mà vua không quyết dưới sự bàn ra của các đình thần . Mãi đến năm 1878, triều đình mới bắt đầu cử người thực hiện các bước đầu tiên trong quá trình cải cách là cho học tiếng nước ngoài, nhưng đình thần vẫn bất đồng và nảy sinh hai phe chủ trương cải cách và bảo thủ, rồi đến khi nước Đại Nam dần rơi vào tay quân Pháp cũng nảy sinh hai phe chủ chiến và chủ hòa .

Về việc cá nhân, vua Tự Đức không có con nên ông truyền ngôi lại cho một người con của anh mình là vương tử Nguyễn Phúc Ưng Chân . Việc nối ngôi này liên tiếp gặp nhiều rối ren, Nguyễn Phúc Ưng Chân lên làm vua hiệu là Dục Đức được ba ngày thì bị phế bỏ rồi giết chết; một người con khác của vua Thiệu Trị là Nguyễn Phúc Hồng Dật lên nối ngôi tiếp với hiệu Hiệp Hòa tiếp cũng bị ép uống thuốc độc sau năm tháng, vị vua kế là Kiến Phúc cũng đột ngột qua đời (ghi là bệnh, nhưng nghi là bị đầu độc) . Việc lập phế liên tiếp này chỉ kết thúc khi vua Hàm Nghi lên ngôi năm 1884 .

Phong trào Cần Vương

Vua Hàm Nghi, vị vua thứ tám của nhà Nguyễn

Năm 1885, phải chủ chiến trong triều đình dậy tấn công quân Pháp đóng ở kinh đô Huế nhÆ°ng thất bại. Vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết chạy ra Tân Sở thuộc Quảng Trị, tại đây Tôn Thất Thuyệt mượn danh nghÄ©a vua Hàm Nghi phát chiếu Cần VÆ°Æ¡ng kêu gọi người Việt nổi dậy đánh Pháp giúp vua. Hưởng ứng lời kêu gọi này, nhiều cuộc nổi dậy đã nổ ra trong đó tiêu biểu là những cuộc khởi nghÄ©a ở Ba Đình của Phạm Bành và Đinh Công Tráng, khởi nghÄ©a Bãi Sậy do Nguyễn Thiện Thuật chỉ huy, khởi nghÄ©a HÆ°Æ¡ng Khê của Phan Đình Phùng và Cao Thắng, khởi nghÄ©a ở HÆ°ng Hóa do Nguyễn Quang Bích lãnh đạo… Phong trào vẫn tiếp tục phát triển cả sau thời gian vua Hàm Nghi bị Pháp bắt giữ (năm 1888); nó chỉ thá»±c sá»± chấm dứt khi lãnh đạo cuộc nổi dậy ở HÆ°Æ¡ng Khê là Phan Đình Phùng chết cuối năm 1895.

Nguyên nhân sự thất bại của các phong trào kháng Pháp bởi sự kháng cự của họ chỉ có tính cách địa phương. Các lãnh tụ Cần Vương chỉ có uy tín tại nơi họ xuất thân, tinh thần địa phương mạnh mẽ làm họ chống lại mọi sự thống nhất phong trào trên 1 quy mô lớn hơn. Khi các lãnh tụ bị bắt hay chết thì quân của họ hoặc giải tán hay đầu hàng. Ngoài ra, các đạo quân này không được lòng dân quê nhiều lắm bởi để có phương tiện sống và duy trì chiến đấu, có những lúc họ phải đi cướp phá dân chúng.

Ngoài những lý do trên, sự thất bại của phong trào này còn bởi việc xung đột với các nhóm dân thiểu số tại Việt Nam. Quân Cần Vương giết hại hàng loạt những người Việt theo Công giáo vì cho rằng nhóm dân này làm nội gián cho Pháp, điều này lại thúc đẩy giáo dân tự vệ bằng cách thông báo tin tức cho phía Pháp. Những thống kê của người Pháp cho biết có hơn 20.000 giáo dân đã bị quân Cần Vương giết hại. Chính sách sa thải các quan chức Việt và cho các dân tộc thiểu số được quyền tự trị rộng rãi của Pháp cũng làm cho các sắc dân này đứng về phía Pháp. Chính người Thượng đã bắt Hàm Nghi, các bộ lạc Thái, Mán, Mèo, Nùng, Thổ đều đã cắt đường liên lạc của quân Cần Vương với Trung Hoa làm cạn nguồn khí giới của họ. Quen thuộc rừng núi, họ cũng giúp quân Pháp chiến tranh phản du kích đầy hiệu quả.

Thời Pháp thuộc

Bản đồ Đông Dương năm 1886

Theo các Hòa ước Harmand và Hòa ước Patenôtre thì chính sách ngoại giao, quân sự và tài chánh do nước Pháp kiểm soát nhưng không có sự hợp nhất giữa 2 quốc gia Đại Nam và Pháp. Nước Pháp sau khi không mua chuộc được vua Hàm Nghi bèn cho ông đi an trí ở Algérie. Sau đó anh trai vua là Nguyễn Phúc Ưng Biện kế vị, lấy niên hiệu là Đồng Khánh. Vua Đồng Khánh bị trách là đã lên ngôi trong những điều kiện quá nhục nhã đối với quốc gia. Bị cô lập và thiếu kinh nghiệm, ông phải nhượng bộ cho người Pháp để đổi lấy sự giúp đỡ về mặt hành chính và quân sự. Năm 1887, Liên bang Đông Dương được thành lập gồm thuộc địa Nam Kỳ, 2 xứ bảo hộ Trung Kỳ và Bắc Kỳ cùng Lào và Cao Miên đều đặt dưới 1 viên quan Toàn quyền Đông Dương người Pháp. Năm 1888, vua Đồng Khánh còn phải nhường cho nước Pháp mọi quyền hành trên 3 thành phố Hà Nội, Hải Phòng và Đà Nẵng, 3 khu vực này cũng trở thành 3 thuộc địa.

Quyền hành của nhà vua còn bị hạn chế hơn nữa khi Paul Doumer trở thành Toàn quyền Đông Dương. Từ 1897-1902, toàn quyền Paul Doumer đã áp dụng 1 chính sách cai trị độc tài, loại bỏ dần ảnh hưởng của triều Nguyễn. Quan lại cấp tỉnh phải phụ thuộc trực tiếp Thống sứ Pháp, cai trị xứ Bắc Kỳ nhân danh Hoàng đế nhưng lại không cần phải nghe lệnh của vị vua Đại Nam. Các quan cũng phải nhường cho Công sứ Pháp quyền đề cử và bổ nhiệm hương chức. Cơ quan hành chính Pháp cũng phụ trách thu thuế và giao cho ngân khố của triều đình một ngân sách cần thiết cho việc duy trì triều đình. Paul Doumer đã thay thế chế độ bảo hộ bằng chế độ trực trị và triều đình từ lúc đó chỉ còn giữ lại được những hình thức bề ngoài. Vua Thành Thái vào năm 1907 đã bị ép phải thoái vị khi không phê chuẩn việc bổ nhiệm một số quan lại đã được Khâm sứ Lévêque và Hội đồng Thượng thư thỏa thuận. Hoàng tử Nguyễn Phúc Vĩnh San được đưa lên nối ngôi, tức vua Duy Tân. Cũng như vua cha Thành Thái, Duy Tân là người có tư tưởng chống Pháp. Năm 1916, ông liên kết cùng Việt Nam Quang Phục Hội của nhóm Thái Phiên và Trần Cao Vân nổi dậy nhưng thất bại và bị đày ra đảo La Réunion cùng lúc với cha mình.

Năm 1922, vua Khải Định sang Pháp để đòi hỏi nước Pháp phải cho người Việt được tham gia chính trị nhiều hÆ¡n nhÆ°ng cuộc hành trình này đã không đem lại kết quả nào. Chuyến đi này đã bị Nguyễn Ái Quốc châm biếm trong tác phẩm Vi hành của ông đăng trên báo L’Humanité số ngày 19 tháng 2 năm 1923. Ngày 6 tháng 11 năm 1925, lợi dụng việc vua Khải Định vừa qua đời, Toàn quyền Alexandre Varenne đã ép vị vua mới là Bảo Đại mới 12 tuổi phải ký thỏa ước giao cho quan Khâm sứ Pháp các quyền hạn cuối cùng. Thậm chí nhà vua còn không thể lá»±a chọn các Thượng thÆ° và quan chức. Nước Đại Nam trên thá»±c tế đã trở thành 3 mảnh có đời sống và thể chế riêng biệt. Nam Kỳ sáp nhập vào Pháp, Bắc Kỳ gần nhÆ° 1 thuộc địa và Trung Kỳ là nÆ¡i mà quy chế bảo hộ chỉ là lý thuyết.

Sụp đổ

Hoàng Đế Bảo Đại, vị vua cuối cùng của nhà Nguyễn và thời phong kiến ở Việt Nam

Khi trở về nước năm 1932, Bảo Đại đã mong muốn cải cách xã hội Việt Nam nhưng phong trào này đã chết yểu bởi sự đối địch với các quan Thượng thư của ông như Phạm Quỳnh và Ngô Đình Khả, cũng như sự chống đối của giới bảo thủ và chính phủ bảo hộ Pháp. Nhà vua nản lòng sớm, chuyển sang tiêu khiển bằng bơi thuyền và săn bắn. Trước thực tế nhà Nguyễn không còn khả năng chống Pháp, nhiều đảng phái cách mạng được tổ chức để đánh đuổi người Pháp. Việt Nam chi bộ của hội Á Tế Á Áp Bức Nhược Tiểu Dân tộc do Nguyễn Ái Quốc thành lập ở Quảng Đông. Năm 1926, Tân Việt Cách mạng Đảng hoạt động ở Hà Tĩnh và Sài Gòn. Năm 1927, Phạm Tuấn Tài, Hoàng Phạm Trân, Nguyễn Thái Học lập ra Việt Nam Quốc dân Đảng. Năm 1928, Tạ Thu Thâu và Nguyễn An Ninh lập Đệ Tứ Quốc tế. Năm 1930, Việt Nam Cách mạng Đồng Chí Hội đổi ra Đông Dương Cộng sản Đảng.

Năm 1936, Mặt trận Bình dân Pháp giành chiến thắng cho phép không khí chính trị tại Đông Dương mang tính tự do hơn. Tại Bắc Kỳ và Trung Kỳ, chính phủ Bảo hộ không cho phép đảng phái chính trị nào hoạt động. Dù vậy chính phủ Pháp đã nhượng bộ một phần trước các cuộc bãi công của công nhân. Năm 1937, phong trào đình công và biểu tình lại tái phát vượt quá tính chất nghề nghiệp để mang nhiều tính chính trị hơn. Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, Nhật Bản mang quân vào đánh chiếm Đông Dương.

Ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhật Bản đảo chính Pháp. Theo sắp xếp của Nhật Bản, vua Bảo Đại chỉ định Trần Trọng Kim làm thủ tướng thay thế cho Nội các Phạm Quỳnh tại Huế. Ngày 11 tháng 3 năm 1945, Bảo Đại ra đạo dụ “Tuyên cáo Việt Nam độc lập”, tuyên bố hủy bỏ Hòa ước Patenôtre ký với Pháp năm 1884, khôi phục chủ quyền Việt Nam, thống nhất Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ. Trong tuyên bố của Bảo Đại, bãi bỏ các hiệp ước bảo hộ và mất độc lập với Pháp trước đây Ngày 7 tháng 4 năm 1945, Bảo Đại đã ký đạo dụ số 5 chuẩn y thành phần nội các Trần Trọng Kim và ngày 12 tháng 5 giải thể Viện Dân biểu Trung Kỳ. Tháng 6 năm 1945, chính phủ Trần Trọng Kim đặt quốc hiệu là Đế quốc Việt Nam.

Theo nhà sử học Joyce C. Lebra, Đế quốc Việt Nam được thành lập như một bộ phận của chính sách Khối Thịnh vượng chung Đại Đông Á của Nhật. Tuy nhiên, nó cũng chỉ là một trong những khẩu hiệu và khái niệm được dùng để biện hộ cho sự chiếm đóng của Đế quốc Nhật Bản tại Đông Á từ thập niên 1930 cho đến hết Chiến tranh thế giới thứ hai, trong đó các chính quyền bản xứ phải vận động người dân và nền kinh tế trong nước phục vụ cho lợi ích của Đế quốc Nhật Bản. Các chính quyền này trên danh nghĩa là độc lập, song thực tế không có nhiều quyền lực, hầu hết các chính sách quan trọng đều do lực lượng quân quản Nhật quyết định (tiêu biểu như chính phủ bù nhìn Mãn Châu quốc của cựu hoàng đế nhà Thanh (Phổ Nghi) hay chính phủ bù nhìn Đế quốc Đại Hàn) .

Ngày 16 tháng 8 năm 1945, Trần Trọng Kim tuyên bố sẽ bảo vệ nội các Đế quốc Việt Nam và ngày 18 tháng 8 tạo ra một ủy ban giải phóng dân tộc, nhóm tất cả các đảng phái chính trị để lãnh đạo. Theo lời khuyên của ông Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, Bảo Đại gá»­i thông điệp cho Tổng thống Truman, vua nước Anh, Thống chế Tưởng Giới Thạch, Tướng de Gaulle đề nghị công nhận chính phủ Đế quốc Việt Nam. Thông điệp này cho rằng sá»± độc lập của Việt Nam “chỉ có nghÄ©a là bảo vệ lợi ích của Pháp và ảnh hưởng tinh thần Pháp ở Đông DÆ°Æ¡ng“. Tuy nhiên De Gaulle dá»± kiến sẽ hậu thuẫn cho một chế độ quân chủ mà người đứng đầu không phải là Bảo Đại, người đã thỏa hiệp với Nhật Bản để được “độc lập”, mà là VÄ©nh San, được xem nhÆ° là một người “Gaullist”. Tất cả các bức thÆ° của Bảo Đại đều không được hồi âm, bởi theo Tuyên bố Cairo, các nước trong khối Đồng Minh sẽ không công nhận bất cứ chính phủ nào do Đế quốc Nhật Bản thành lập tại các lãnh thổ chiếm đóng. Đến 24 tháng 8, Hội đồng CÆ¡ mật khuyên vua Bảo Đại quyết định thoái vị “để không phải là một trở ngại cho sá»± giải phóng của đất nước”.

Sau khi Nhật đầu hàng Đồng Minh ngày 15 tháng 8 năm 1945, Mặt trận Việt Minh do Hồ Chí Minh lãnh đạo đã thực hiện thành công Cách mạng tháng Tám, đưa Việt Nam trở thành nước độc lập từ tay người Nhật và người Pháp.

Ngày 25 tháng 8 năm 1945, vua Bảo Đại đọc bản Tuyên ngôn Thoái vị trước cửa Ngọ Môn. Chính phủ Trần Trọng Kim bị giải tán và Chính phủ lâm thời do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch chính thức tuyên bố Việt Nam độc lập ngày 2 tháng 9 năm 1945.

Sự kiện Bảo Đại thoái vị chính thức đánh dấu sự sụp đổ của nhà Nguyễn (mặc dù sau đó, Bảo Đại còn tiếp tục làm quốc trưởng của Quốc gia Việt Nam từ ngày 1 tháng 7 năm 1949 đến ngày 26 tháng 10 năm 1955). Sự kiện này cũng đã đánh dấu sự chấm dứt hơn 1.000 năm chế độ quân chủ chuyên chế ở Việt Nam. Nhà Nguyễn tồn tại 143 năm, có 13 đời vua thuộc 7 thế hệ.

Di sản

Văn hóa

Thời kỳ nhà Nguyễn đã để lại nhiều di sản văn hóa cho dân tộc Việt Nam, một số di sản đã được UNESCO công nhận là di sản thế giới nhÆ° Nhã nhạc cung đình Huế, Quần thể di tích Cố đô Huế hoặc Mộc bản triều Nguyễn. Giáo sÆ° sá»­ học Việt Nam Phan Huy Lê nhận xét rằng: “ChÆ°a có một thời kỳ lịch sá»­ nào để lại cho dân tộc ba di sản văn hoá được thế giới công nhận và tôn vinh với những giá trị mang ý nghÄ©a toàn cầu nhÆ° vậy” }}

Nhà Nguyễn cÅ©ng để lại hệ thống thÆ° tịch rất lớn Châu bản triều Nguyễn; hệ thống giáo dục, hàng ngàn đình, chùa miếu, nhà thờ… trải dài từ Nam chí Bắc… Nhiều di sản trong số này có thời kỳ dài bị lãng quên và bị coi nhÆ° một thứ “tàn dÆ° của phong kiến thối nát”.

Nhã nhạc cung đình Huế đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại trong năm 2003.

Quần thể di tích Cố đô Huế

Lăng Khải Định.

Quần thể di tích Cố đô Huế được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới vào ngày 11 tháng 12 năm 1993. Phần lớn các di tích này hiện nay thuộc sá»± quản lý của Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế. Trong lịch sá»­ Việt Nam thời cận đại, công trình xây dá»±ng Kinh thành Huế có lẽ là công trình đồ sộ, quy mô nhất với hàng vạn lượt người tham gia thi công, hàng triệu mét khối đất đá, với một khối lượng công việc khổng lồ nhÆ° đào hào, lấp sông, di dân, dời mộ, đắp thành… kéo dài từ thời điểm tiến hành khảo sát dưới triều vua Gia Long năm 1803 đến khi hoàn chỉnh triều vua Minh Mạng vào năm 1832. Phong cách kiến trúc và cách bố phòng khiến Kinh thành Huế thá»±c sá»± là một pháo đài vÄ© đại và kiên cố nhất từ trước đến nay ở Việt Nam mà một thuyền trưởng người Pháp là Le Rey khi tới Huế năm 1819 phải thốt lên: “Kinh Thành Huế thá»±c sá»± là pháo đài đẹp nhất, đăng đối nhất ở Đông DÆ°Æ¡ng, thậm chí so với cả pháo đài William ở Calcutta và Saint Georges ở Madras do người Anh xây dá»±ng”.

Mộc bản và bảo vật

Mộc bản triều Nguyễn được UNESCO công nhận là di sản tÆ° liệu thế giới đầu tiên tại Việt Nam ngày 31 tháng 7 năm 2009. Bộ Mộc bản này gồm 34.618 tấm, là những văn bản chữ Hán-Nôm được khắc ngược trên gỗ để in ra các sách tại Việt Nam vào thế ká»· 19 và đầu thế ká»· 20, và hiện đang được bảo quản tại Trung tâm LÆ°u trữ Quốc gia IV- Đà Lạt, Lâm Đồng (xÆ°a và nay vẫn là Biệt điện Trần Lệ Xuân – Khu Di tích của TP. Đà Lạt).

Con dấu “Hoàng đế tôn thân chi bảo” bằng ngà (1885) của triều Nguyễn, hiện đang trÆ°ng bày trong Bảo tàng Lịch sá»­ Việt Nam (Thành phố Hồ Chí Minh)

.

Ngoài những di tích lịch sá»­ nhÆ° đền đài, dinh thá»±, thời đại nhà Nguyễn cÅ©ng để lại nhiều bảo vật, là dấu tích của mỹ thuật Việt Nam thế ká»· 18 và 19, trong đó có nhiều kim ấn, ngọc tá»· truyền quốc, bá»­u tá»·, bảo kiếm, hàng thủ công nghệ và mỹ thuật. Cuối năm 2010, lần đầu tiên sau 50 năm được bảo quản tại Bảo tàng Lịch sá»­ Việt Nam, những báu vật này đã được đem ra trÆ°ng bày . Riêng quốc ấn (nặng khoảng 10 kg vàng) và quốc kiếm của vua Bảo Đại, trao lại cho Trần Huy Liệu, Trưởng đoàn Đại biểu chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào năm 1945 đã bị mất trộm tại viện bảo tàng Việt Nam và thất lạc . Cả ấn tín của hoàng hậu Nam PhÆ°Æ¡ng cÅ©ng bị trộm mất

Lệ bất khả

Trong giới sử học hiện nay hình thành 2 luồng ý kiến khác nhau về lệ bất khả của nhà Nguyễn. Nguyễn Phan Quang và Trương Hữu Quýnh cho rằng: để đề cao uy quyền nhà vua và ngăn chặn nạn quyền thần lấn át hoàng đế, vua Gia Long đã đặt ra lệ Tứ bất: Trong triều không lập Tể tướng, thi đình không lấy Trạng nguyên, trong cung không lập Hoàng hậu, không phong tước vương cho người ngoài họ vua .

Lê Nguyễn có ý kiến ngược lại về vấn đề này, tuy nhiên ông chỉ đề cập tới “tam bất” chứ không phải “tứ bất”:

“Trong khi triều Nguyễn có một Quốc sá»­ quán làm việc thật hiệu quả, đã cho ra đời những bộ sá»­… lớn lao, thì không thấy ai viện dẫn một chỉ dụ nào của các vua Nguyễn quy định những điều bất khả đó…” .

Bất khả trạng nguyên

Thực tế là triều Nguyễn không có một trạng nguyên nào. Trạng nguyên là người xếp hạng cao nhất trong số các tiến sĩ dự kỳ thi Đình dưới các triều đại trước. Thời Nguyễn, triều đình tổ chức thi Hội để lấy tiến sĩ và thi Đình để xếp hạng các ông nghè; các tân khoa tiến sĩ dự thi Đình được xếp theo giáp đệ, còn gọi là tam giáp:

  • Đệ nhất giáp
  • Đệ nhị giáp gọi là đệ nhị giáp tiến sÄ© cập đệ hay tiến sÄ© hoàng giáp
  • Đệ tam giáp là đệ tam đồng tiến sÄ© hay tiến sÄ© xuất thân

Việc xếp hạng tiến sĩ như trên không phải là sáng kiến mới của nhà Nguyễn nhằm “né tránh” danh hiệu trạng nguyên hay hạ thấp địa vị của người thi đỗ cao nhất, mà việc này từng thực hiện dưới các triều đại trước:

  • Năm 1232 thời Trần Thái Tông, mở thi Thái học sinh, “lấy TrÆ°Æ¡ng Hanh, LÆ°u Diễm đỗ đệ nhất giáp; Đặng Diễn, Trịnh Phẫu đỗ đệ nhị giáp; Trần Chu Phổ đỗ đệ tam giáp”
  • Năm 1442 thời Lê Thái Tông, “Nguyễn Trá»±c, Nguyễn NhÆ° Đỗ, LÆ°Æ¡ng NhÆ° Hộc ba người đỗ tiến sÄ© cập đệ; bọn Trần Văn Huy 7 người đỗ tiến sÄ© xuất thân; bọn Ngô SÄ© Liên 23 người đỗ tiến sÄ© đồng xuất thân…” .
  • Năm 1499 thời Lê Hiến Tông, “cho Đỗ Lý Khiêm, LÆ°Æ¡ng Đắc Bằng, Nguyễn Khắc Kiệm ba người đỗ tiến sÄ© cập đệ, bọn Hoàng TrÆ°ng, Nguyễn Hằng 24 người đỗ đệ nhị giáp tiến sÄ© xuất thân…” .

Lê Nguyễn khẳng định cách thức xếp hạng tiến sĩ trong thi Đình theo giáp đệ đã xuất hiện trước khi có danh hiệu trạng nguyên và không có gì khác biệt giữa hai cách gọi trên. Do đó, việc triều Nguyễn áp dụng hình thức giáp đệ trong thi đình mà không chọn trạng nguyên là rất bình thường, không xuất phát từ một lệ “bất khả” nào .

Bất khả hoàng hậu

Trên thực tế sử sách ghi nhận nhà Nguyễn có ít nhất 3 hoàng hậu: 2 hoàng hậu thời Gia Long là Thừa Thiên Cao Hoàng hậu (mẹ hoàng tử Cảnh) và Thuận Thiên Cao Hoàng hậu (mẹ Minh Mạng) và 1 hoàng hậu thời Bảo Đại là Nam Phương hoàng hậu.

Ngoài ra, sử liệu nhà Nguyễn không hề phủ nhận sự tồn tại của ngôi vị hoàng hậu :

  • Sách Minh Mệnh chính yếu ghi: “Nay châm chước đời xÆ°a vá đời nay, đặt bị quý phi, thần phi vào bậc nhất… trên bậc nhất đặt một vị hoàng quý phí để giúp hoàng hậu điều khiển chính sá»± trong cung”
  • Sách Đại Nam điển lệ toát yếu dành hẳn khoản 183 để định nghi thức “tuyên sách văn lập hoàng hậu”

Lê Nguyễn cho rằng: việc các triều vua từ Minh Mạng tới Khải Định không phong hoàng hậu không xuất phát từ lệ nào mà vì chưa tìm được người xứng đáng hoặc chưa thấy cần làm .

Bất khả tể tướng

Thời Gia Long đặt quan chế trên cơ sở tham khảo thời Hậu Lê. Sang thời Minh Mạng có việc tổ chức lại bộ máy và áp dụng tới hết thời Nguyễn, theo đó đứng đầu bộ máy quan lại là tứ trụ triều đình. Khi tham khảo sử sách các đời trước cũng rất khó tìm thấy chức danh tể tướng trong hàng quan lại đầu triều :

  • Thời Tiền Lê: Đứng đầu là thái sÆ°, thái úy, tổng quản
  • Thời Lý: Thái sÆ°, thái phó, thái bảo, tổng quản, tướng công
  • Thời Trần: lấy ba chức thái, ba chức thiếu (thiếu sÆ°, thiếu phó, thiếu bảo), thái úy, tÆ° đồ, tÆ° mã, tÆ° không. Chức Tể tướng thì thêm danh hiệu Tả hữu tướng quốc bình sá»±
  • Thời Hậu Lê, trong quan chế thời Hồng Đức (Lê Thánh Tông) năm 1471 và được áp dụng phổ biến trong các triều vua Hậu Lê sau, không thấy có chức danh tể tướng.

Như vậy việc triều Nguyễn không đặt chức danh tể tướng cũng là điều bình thường như các triều đại trước, không có cơ sở để khẳng định đó là một điều quy định “bất khả tể tướng” của nhà Nguyễn.

Lê Nguyễn cho rằng việc nhà Nguyễn không đặt chức danh tể tướng, áp dụng chế độ khoa cử đỗ tam giáp và nhiều triều vua không phong hoàng hậu không có gì là bất thường và không phải là sự áp dụng riêng biệt của triều đại này, mà nó phù hợp và tiếp thu theo thông lệ từng có ở các triều đại trước .

Nhận định

Về vấn đề tổ chức hành chính

Nhà Nguyễn là vương triều đã hoàn thành việc chấm dứt chia cắt, phân chia Đàng Trong, Đàng Ngoài dù rằng phong trào Tây Sơn là những người đầu tiên thực hiện quá trình này (thậm chí cuối thời Tây Sơn cũng đang có nguy cơ phân liệt).[Ghi chú 1] Triều Nguyễn từ Gia Long đến Minh Mạng đều lo củng cố vương quyền đồng thời củng cố chủ quyền dân tộc, chống mọi sự vi phạm, xâm phạm từ bên ngoài và bên trong, kể cả bằng những biện pháp như trấn áp quyết liệt Công giáo thời kỳ Minh Mạng và Tự Đức.[Ghi chú 2]

Những thành quả của vương triều Nguyễn trong việc xây dựng nhà nước quân chủ phong kiến tập quyền thống nhất trên toàn lãnh thổ cũng được ghi nhận từ việc quản lý đất nước. Đặc biệt là những thành tựu trong cải cách hành chính dưới triều Minh Mạng còn có nhiều giá trị. Nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân cho rằng:

Triều Nguyễn từng bị Uá»· ban Khoa học Xã hội Việt Nam (Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) đánh giá là “Chế độ quân chủ chuyên chế cá»±c kỳ phản động” và cho rằng nhà Nguyễn đã “tăng cường bộ máy đàn áp”, “Bộ máy quan lại hủ lậu mục nát” . NhÆ°ng nhiều nhà sá»­ học về sau cho rằng bộ máy quan lại trong thời kỳ đầu triều Nguyễn không thá»±c sá»± hủ bại, thối nát, từ đời vua Gia Long (1802-1820) đến Minh Mạng (1820-1840), nhà Nguyễn đã “thá»±c hiện công cuộc cải cách hành chính theo xu hướng đơn giản, hợp lý, hiệu quả, chú trọng xây dá»±ng đội ngÅ© quan lại có năng lá»±c, đáp ứng yêu cầu của đất nước”. Sá»± hủ bại, thối nát của bộ máy quan lại nhà Nguyễn thá»±c sá»± chỉ diễn ra từ đời vua Tá»± Đức (1847 – 1883) trở về sau. Sá»± thay đổi về quan điểm này được cho là do hiện nay các nhà sá»­ học đã có được “nguồn sá»­ liệu toàn diện, phong phú và phÆ°Æ¡ng pháp tiếp cận khách quan, khoa học, cộng với độ lùi thời gian cần thiết”.

Vấn đề cải cách

Theo Nguyễn Quang Trung Tiến (Trường Đại học Khoa học Huế), đối với những đề xướng cải cách, thái độ của nhà Nguyễn là tiếp nhận các điều trần chứ không quay lÆ°ng. Vua Tá»± Đức và triều thần dường nhÆ° đã đọc không bỏ sót một bản điều trần nào của các nhà cải cách gá»­i về Huế;… đồng thời đã tổ chức thá»±c hiện việc cải cách ở một số lÄ©nh vá»±c. Tuy nhiên, nhà Nguyễn đã thất bại trong việc cải cách, những công việc tiến hành chÆ°a nhiều và không đồng bộ, không thể tạo ra một cuộc cải cách thá»±c sá»± nhÆ° “Minh Trị duy tân” ở Nhật Bản, để rồi dang dở bất thành . Những nguyên nhân cÆ¡ bản là:

  1. Cuộc cải cách của triều Nguyễn gặp phải hạn chế khách quan là không hề có những hậu thuẫn quan trọng về xã hội, thiếu hẳn một giai cấp đủ năng lực tiến hành cải cách.
  2. Giai cấp phong kiến Việt Nam chưa có khuynh hướng tư sản hóa nên số đông triều thần nhà Nguyễn đã bị tầm nhìn hạn hẹp và sự thủ cựu chi phối, năng lực bản thân hạn chế.
  3. Không có người biết tổ chức, quản lý, tay nghề không có, kỹ thuật yếu kém.
  4. Sau khi Nam Kỳ mất, tiềm lá»±c quốc gia hao mòn quá lớn, nguồn tài chính cạn kiệt, mất mùa đói kém triền miên, dân chúng nổi lên khắp nÆ¡i, nên sá»± đầu tÆ° cho cuộc canh tân không đủ, nhiều chÆ°Æ¡ng trình học nước ngoài bị bỏ dở ná»­a chừng. Riêng nguyên nhân này còn có tác động từ phía Pháp: không ít lần người Pháp đã ngăn không cho du học sinh Việt Nam ra nước ngoài học; hoặc việc mua tàu máy, vÅ© khí của nước ngoài cÅ©ng bị Pháp phá hỏng…

Quan điểm đánh giá

Từ năm 1945 đến trước năm 1975, đã có những ý kiến đánh giá phê phán nhà Nguyễn rất gay gắt trong giới sử học ở miền Bắc Việt Nam, chủ yếu bởi việc nhà Nguyễn đã để mất nước vào tay Pháp. Ngay từ năm 1961, ngay trước khi cho ấn hành tập đầu tiên của bộ Đại Nam thực lục, Viện Sử học Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã viết nhận định:

Sách Lịch sử Việt Nam do Viện Khoa học Xã hội của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, bản năm 1971 cũng cho rằng:

Ngoài ra còn các nhận định trong các tiểu mục khác nhÆ° “Tăng cường bộ máy đàn áp”, “Bộ máy quan lại hủ lậu mục nát”, “Chế độ áp bức bóc lột nặng nề”, “Chính sách kinh tế lạc hậu và phản động”, “Chính sách đối ngoại mù quáng”, v.v… và trong tập II của bộ Lịch sá»­ Việt Nam xuất bản vào năm 1985, các tác giả thuộc Uá»· ban Khoa học Xã hội còn dùng những từ ngữ rất mạnh nhÆ°: “triều đình nhà Nguyễn thối nát và hèn mạt”, “VÆ°Æ¡ng triều Nguyễn tàn ác và ngu xuẩn”, “cá»±c kỳ ngu xuẩn”, “tên chúa phong kiến bán nước số 1 là Nguyễn Ánh… Nguyễn Ánh cầu cứu các thế lá»±c ngoại bang giúp hắn thỏa mãn sá»± phục thù giai cấp”, v.v…

Dù vậy, cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, vào ngay thời điểm đang chỉ đạo việc biên soạn bộ sách lịch sá»­ do Ủy ban Khoa học Xã hội chủ trì đả phá quyết liệt các chúa Nguyễn và triều Nguyễn cÅ©ng nhắc nhở những người tham gia biên soạn bộ sá»­ ấy rằng, rồi “đến lúc nào đó” phải đánh giá lại chính những quan điểm của bộ sá»­ này về các chúa Nguyễn và triều Nguyễn.

GS Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sá»­ Việt Nam nhận định, thời kỳ các chúa Nguyễn và vÆ°Æ¡ng triều Nguyễn từ thế ká»· XVI cho đến thế ká»· XIX là một thời kỳ lịch sá»­ đã trải qua những cách nhìn nhận và đánh giá hết sức khác nhau, có những lúc gần nhÆ° đảo ngược lại. Triều Nguyễn được đặt trong “khung” lý thuyết hình thái kinh tế xã hội là triều đại suy vong, lâm vào khủng hoảng nặng nề, và chịu nhiều đánh giá tiêu cá»±c.

Theo ông Nguyễn Đắc Xuân (Hội sử học Thừa Thiên – Huế), nhận định tiêu cực về nhà Nguyễn còn có 4 xu hướng: con cháu nhà Lê – Trịnh viết về chúa Nguyễn có những điểm sai; thực dân Pháp, Công giáo và những người nghiên cứu nhà Tây Sơn, thích Tây Sơn đều có những đánh giá tiêu cực về nhà Nguyễn.

Quan điểm phê phán nhà Nguyễn chi phối xã hội miền Bắc Việt Nam (từ năm 1954) và miền Nam Việt Nam (từ sau năm 1975) trong một thời gian dài nên nhiều di tích có liên quan bị bỏ mặc, tên đường phố, trường học, các công trình công cộng tại các đô thị, thậm chí ngay cả với những “ông vua chống Pháp” nhÆ° Duy Tân cÅ©ng bị bãi bỏ. Một thời gian dài quần thể di tích cố đô Huế bị bỏ mặc để trở thành phế tích sau những đổ nát của chiến tranh và lụt lội… . CÅ©ng theo ông Phan Thuận An, chỉ trong hai thập niên gần đây (1987-2008), nhiều cuộc hội thảo khoa học và nhiều công trình nghiên cứu đã dần dần đem lại một cái nhìn dễ chịu hÆ¡n chứ không còn gay gắt nhÆ° trước đối với vÆ°Æ¡ng triều này.

Tuy nhiên, trong quyển Đại cÆ°Æ¡ng Lịch sá»­ Việt Nam tập II do Đinh Xuân Lâm biên soạn gần đây (bản năm 2007) thì cho rằng “triều Nguyễn thành lập là sá»± thắng thế của tập đoàn phong kiến tối phản động trong nước có tÆ° bản nước ngoài ủng hộ” . Ông Lâm cÅ©ng cho rằng nhà Nguyễn “là 1 nhà nước quân chủ chuyên chế tuyệt đối, tập trung cao độ với 1 chế độ chính trị lạc hậu, phản động” . “Mọi chính sách chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội triều Nguyễn ban hành đều nhằm mục đích duy nhất là bảo vệ đặc quyền đặc lợi cho tập đoàn phong kiến nhà Nguyễn”… và các biện pháp khai hoang hay mộ dân lập ấp đều “xuất phát từ lợi ích của giai cấp thống trị”.

Lý giải về thái độ đánh giá trên, giáo sÆ° Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sá»­ Việt Nam cho rằng: “nguyên do sâu xa của vấn đề này là do bối cảnh chính trị của đất nước (Việt Nam) thời bấy giờ và cách vận dụng phÆ°Æ¡ng pháp luận sá»­ học của các nhà nghiên cứu”… Bối cảnh chính trị của cuộc kháng chiến chống Pháp tất yếu dẫn đến thái độ tiêu cá»±c và phê phán về nhà Nguyễn, triều đại từng để mất nước vào tay Pháp.

Nhà nghiên cứu Chu Giang tổng kết: nhà Nguyễn có một số công lao, nhÆ°ng có tội làm mất nước, đây là cái tội lớn nhất nên một số công lao của nhà Nguyễn cÅ©ng không thể bù đắp được. Mặt khác, cÅ©ng cần phân biệt rõ giữa thời kỳ “chúa Nguyễn” (có công mở mang bờ cõi) và thời kỳ “vÆ°Æ¡ng triều Nguyễn” (có lỗi làm đất nước trì trệ) để không lẫn lộn công – tội giữa 2 giai đoạn khác nhau này. Không phủ nhận nhà Nguyễn có những vị vua yêu nước và có công (Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân), nhÆ°ng cÅ©ng không thể phủ nhận có những vị vua Nguyễn đã cầu viện ngoại bang hoặc đầu hàng giặc, có tội với đất nước (Gia Long, Đồng Khánh, Khải Định, Bảo Đại). Ai có công thì khen, ai có tội thì chê chứ không thể đánh đồng các vấn đề này với nhau, lấy công mở mang của cha ông (các chúa Nguyễn) để xóa tội cho con cháu (các vua Nguyễn đã cầu viện hoặc đầu hàng ngoại quốc) nhằm biện hộ cho nhà Nguyễn theo cảm tính nhÆ° một số nhà sá»­ học có tÆ° tưởng “hoài niệm triều Nguyễn” hiện nay :

Giáo sư Phan Huy Lê cho rằng công của Nguyễn Ánh là chính, tội chỉ là tỳ vết, là điểm mờ. Biện luận đó là đúng theo quan điểm của người Pháp, của con cháu nhà Nguyễn và phái “hoài niệm triều Nguyễn”. Nhưng xét trên bình diện quốc gia thì tội bán nước, đầu hàng ngoại bang là vô cùng nặng nề, công lớn bao nhiêu cũng không chuộc lại được.
Nguyễn Ánh khởi đầu hành động bán nước và đến đời các cháu, từ Tá»± Đức cho đến Bảo Đại, đã bán hoàn toàn, đầu hàng hoàn toàn. Nếu không có cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc giành lại độc lập, thống nhất thì giờ này có gì để mà nói nữa. Cho nên, các “chúa Nguyễn” có công mở cõi thì rõ rồi, không thể phủ nhận. Còn “vÆ°Æ¡ng triều Nguyễn” đã làm tổn hại quốc gia, làm chậm bước tiến của dân tộc. Đó là một thá»±c thể lịch sá»­ tồn tại hàng thế ká»·, là nguyên nhân của những diễn biến lịch sá»­ dân tộc, không thể đặt ra ngoài lịch sá»­ dân tộc. NhÆ°ng nói đến, viết đến là để làm sáng tỏ bản chất của lịch sá»­, yếu tố quyết định trong vận động lịch sá»­ dân tộc, khẳng định quy luật của lịch sá»­ dân tộc. Cần phê phán các nhân vật, các yếu tố phản lịch sá»­, phản dân tộc của vÆ°Æ¡ng triều Nguyễn nhÆ°ng không đánh đồng với những vị vua yêu nước, chống ngoại xâm, đã chịu biết bao đau khổ, hi sinh trong cảnh tù đày nhÆ° các Đức vua Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân. Các Hoàng thân quốc thích nhÆ° Bá»­u Đình, Văn Tập, Nguyễn Minh Vỹ và biết bao nhiêu thế hệ con cháu nội ngoại của vÆ°Æ¡ng triều Nguyễn đã đứng vào hàng ngÅ© đấu tranh giải phóng dân tộc. Lý phải có tình, Tình phải có lý. Không thể biện luận lịch sá»­ bằng chủ nghÄ©a tình cảm được.

Nguyên nhân mất nước vào tay Pháp

Người dân Bắc Kỳ (Tonkinese) sụp lạy các binh sĩ Pháp năm 1884. Tranh vẽ trong cuốn La guerre du Tonkin (phát hành tại Paris, 1887) của L. Huard

Có những ý kiến khác nhau về trách nhiệm của các vua nhà Nguyễn đối với việc Việt Nam mất vào tay người Pháp.

Sự trì trệ của đất nước và việc mất lòng dân

Trong Việt Sử tân biên, Phạm Văn Sơn cho rằng Việt Nam mất vào tay thực dân Pháp là một tất yếu lịch sử, hoặc ít ra cũng do trình độ dân trí Việt Nam quá thấp kém so với người Pháp.[Ghi chú 3]

Nguyễn Phan Quang cho rằng triều Nguyễn thua Pháp không phải là tất yếu mà do lúng túng về đường lối chính trị được thể hiện qua mặt quân sự và vấn đề tôn giáo và các mâu thuẫn nội bộ.[Ghi chú 4] Việc ngăn cấm Công giáo đồng nghĩa với việc ngăn chặn phương Tây có mặt tại Việt Nam đã gây phá vỡ khối đại đoàn kết dân tộc và là lý do khiến phương Tây nổ súng xâm lược.[Ghi chú 5] Suốt hơn 20 năm kể từ khi ký Hiệp ước Nhâm Tuất (1862), triều Nguyễn đã không thể giải quyết mâu thuẫn giữa cải cách mới có thể chống Pháp thành công và muốn chống Pháp thành công thì phải cải cách nên đã để mất dần lãnh thổ.[Ghi chú 6]

Vấn đề thuế khóa cao, lao dịch nặng và đời sống khó khăn của người dân cũng khiến nhà Nguyễn mất lòng dân. Thời kỳ 2 triều vua đầu tiên là Gia Long và Minh Mạng, đất nước mới ra khỏi chiến tranh nên lẽ ra cần giảm thuế, miễn lao dịch để sức dân được khôi phục. Nhưng Gia Long lại đánh thuế quá nặng và bắt dân chúng lao dịch quá nhiều, thuế khóa và lao dịch tăng lên gấp ba so với nhà Tây Sơn , đồng thời huy động hàng vạn dân phu để xây các công trình lớn như thành Phú Xuân và đào kênh Vĩnh Tế. Đến thời Minh Mạng thì lại phung phí ngân khố và nhân lực vào những chiến dịch quân sự lớn ở Chân Lạp. Gánh nặng thuế khóa, lao dịch và chiến tranh đổ lên người dân khiến số cuộc nổi dậy của người dân vào thời kỳ đó nhiều hơn hẳn các triều đại trước.

Theo ông Phan Luy Lê thì nguyên nhân mất nước của nhà Nguyễn là rất đa dạng, từ tư duy bảo thủ của vua quan, khoa học kỹ thuật lạc hậu cho tới việc không thu được lòng dân, không nên quy trách nhiệm cho duy nhất một nguyên nhân nào:

Giáo sư Nguyễn Phan Quang có ý kiến như sau:

Giáo sư Trần Văn Giàu đã tổng kết sự lạc hậu, trì trệ trong cách cai trị của nhà Nguyễn như sau :

  • Tình trạng phân liệt, phân tranh kéo dài từ giữa thế ká»· 16 đến hết thế ká»· 18 đã làm suy thoái ý thức dân tộc và tÆ° tưởng yêu nước truyền thống Việt Nam. Nhà Nguyễn viết sá»­ với quan điểm hạ thấp chiến tích chống ngoại xâm của các triều đại trước, làm mất rất nhiều tác dụng giáo dục tÆ° tưởng yêu nước, ý thức dân tộc đang lúc cần phải được phục hồi để đối đầu với kẻ xâm lược.
  • Nhà Nguyễn còn giữ mãi cái học, cái thi lạc hậu theo lối khoa bảng thời xÆ°a, cho nên tinh thần thủ cá»±u, luôn cho rằng xÆ°a hÆ¡n nay. Vào thế ká»· 19, bảo thủ là con đường chết. Triều đình cứ tranh luận việc có nên cải cách hay không, cuối cùng thì không làm gì cả. Ban đầu có mời chuyên gia phÆ°Æ¡ng Tây qua dạy kỹ thuật được ít tháng, cá»­ người qua phÆ°Æ¡ng Tây học hỏi, nhÆ°ng được ít lâu đều dẹp bỏ hết.
  • Nhà Nguyễn thống nhất đất nước nhÆ°ng khi cai trị lại mất lòng dân. Triều Nguyễn tồn tại dài chÆ°a đến 60 năm mà có tới 400 cuộc khởi nghÄ©a nông dân, trung bình một năm 7 cuộc (Đời Gia Long 33 cuộc, đời Minh Mạng 234 cuộc, đời Thiệu Trị (chỉ 7 năm) 58 cuộc, đời Tá»± Đức (chỉ tính đến năm 1862, nghÄ©a là trước khi Pháp chiếm 3 tỉnh Đông Nam kỳ) là 40 cuộc). Do đó, triều đình nhà Nguyễn không thể huy động sức mạnh nhân dân chống ngoại xâm được.
  • Triều đình không dá»± kiến cuộc xâm lăng từ phÆ°Æ¡ng Tây, không chuẩn bị sẵn sàng bảo vệ đất nước. Triều đình bỏ ra rất nhiều tiền bạc để xây lăng tẩm đồ sộ, xây dá»±ng cung điện nguy nga nhÆ°ng không chịu bỏ tiền mua súng đạn do các tàu buôn nước ngoài đem tới chào bán. Việc trang bị vÅ© khí mới bị bỏ bê, vÅ© khí có trong kho thì bảo dưỡng kém. Quân đội Nhà Nguyễn khá đông nhÆ°ng trang bị chỉ nhằm chống nội loạn hÆ¡n là chống xâm lăng, vÅ© khí dÆ° thừa để đánh dẹp nhân dân khởi nghÄ©a nhÆ°ng lại cá»±c kỳ thô sÆ¡ khi so với vÅ© khí của các nước phÆ°Æ¡ng Tây.

Việc Gia Long từng cầu viện Pháp

Các nhà sá»­ học Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong giai đoạn 1954-1975 có xu hướng quy trách nhiệm cho các vua Nguyễn đối với việc mất nước rằng Nguyễn Ánh đã “cõng rắn cắn gà nhà” và Tá»± Đức đã “bán rẻ đất nước” cho thá»±c dân.

Trong bài “Nên học sử ta”, Nguyễn Ái Quốc phê phán hành động cầu viện Pháp của Nguyễn Ánh trước đó 50 năm (ký Hiệp ước Versailles (1787) cắt đất cho Pháp, gửi con trai sang Pháp làm con tin) đã gián tiếp gây tai họa cho đất nước :

“Trước khi vua Gia Long bán nước cho Tây, nước ta vẫn là nước độc lập. Vì muốn giành làm vua mà Gia Long đem nước ta bán cho Tây. Thế là giang san gấm vóc tan tác tiêu điều, con Lạc cháu Hồng hóa làm trâu ngựa”.

Về phía Pháp, sử gia đương thời Gosselin cho rằng :

Những vị hoàng đế nước Nam, bởi sự bội bạc đối với những người Pháp lẫy lừng đã làm quan cho Gia Long, mà nhờ họ, ông ta (Gia Long) mới có được ngai vàng; bởi sự tàn ác đối với những giáo sĩ đồng bào của chúng ta; bởi sự cứng đầu điên dại bế quan tỏa cảng; bởi sự khinh bỉ nền văn minh phương Tây, vì kiêu căng ngu muội, họ cho là man rợ; bởi sự kiên trì từ chối tiếp xúc với nước ngoài, trừ nước Tầu; những hoàng đế này, tôi bảo, phải chịu trách nhiệm sự suy đồi và sụp đổ của nước họ, phải gánh vác một mình, sự nhục nhã trước lịch sử.

Giáo sư Trần Văn Giàu đã tổng kết: Nhà Nguyễn lập nên bằng cầu viện quân sự nước ngoài, nên tính chính thống và uy tín kém hẳn so với các triều đại khác. Vì lợi ích cá nhân, lợi ích gia tộc, Gia Long đã phạm tội “cõng rắn cắn gà nhà, rước voi về giày mả tổ”. Gia Long ban đầu cầu viện Xiêm, được Xiêm giúp cho 3 vạn quân (có sách nói là 6 vạn), nhưng bị Tây Sơn đánh bại. Gia Long lại quay sang cầu viện Pháp, cam kết cắt đất Đà Nẵng và Côn Lôn để Pháp đồng ý cho quân sang đánh Tây Sơn, đó chính là Hiệp ước Versailles (1787). Cầu viện Pháp bằng Hiệp ước Versailles đã tạo thành một “nghiệp chướng” cho triều đình Nguyễn

Do nhiều yếu tố, đặc biệt là cuộc Cách mạng Pháp năm 1789 lật đổ Hoàng gia, nên nước Pháp đã không thi hành Hiệp ước Versailles 1787. Tuy nhiên, Hiệp ước Versailles do Gia Long đặt bút ký vẫn trở thành một di họa đối với Việt Nam. Về sau, Pháp đã dựa vào hiệp ước này để làm cớ yêu cầu nhà Nguyễn cắt đất, và sau đó xâm lược Việt Nam vào năm 1858. Sau này tác giả Faure chép truyện Bá Đa Lộc, có nuối tiếc rằng nếu Hiệp ước thành sự thực thì Pháp có thể chiếm Việt Nam sớm hơn mấy chục năm:

“Nếu lúc ấy Chính phủ Pháp sẵn sàng giúp ông Bá Đa Lộc thì ông ấy đã giúp cho nước Pháp hoàn thành cuộc bảo hộ ở An Nam ngay từ cuối thế kỷ 18, để sau khỏi phải dùng đến chiến sự mới xong công việc” .

Thái độ của vua quan nhà Nguyễn

Sự lạc hậu của nước Việt thời nhà Nguyễn là một nguyên nhân mất nước vào tay Pháp. Tuy nhiên, nguyên nhân này không phải là duy nhất, một nguyên nhân khác được phân tích tỉ mỉ là thái độ bạc nhược, chỉ mong cắt đất cầu hòa của vua quan nhà Nguyễn thời Tự Đức.

Nếu phân tích kỹ thì đúng là quân Pháp có trang bị vÅ© khí vượt trội cho với quân Nhà Nguyễn, nhÆ°ng sá»± vượt trội này không phải là quá lớn (thời bấy giờ chÆ°a có không quân và xe tăng, bộ binh Pháp thời đó cÅ©ng chÆ°a có súng máy mà chỉ có súng trường bắn phát một, uy lá»±c không hÆ¡n quá nhiều so với súng hỏa mai của quân Nguyễn), chÆ°a kể nhà Nguyễn hoàn toàn có thể dùng ngân khố để mua vÅ© khí của các nước phÆ°Æ¡ng Tây khác nhÆ° Đức, Anh… nhằm cân bằng trang bị với Pháp. Ngoài ra, lá»±c lượng xâm chiếm của Pháp có quân số khá nhỏ, mỗi chiến dịch Pháp chỉ huy động khoảng mấy ngàn quân là tối đa, trong khi quân nhà Nguyễn trên toàn quốc có ít nhất 20 vạn quân chính quy và dân binh, Æ°u thế hàng chục lần về quân số hoàn toàn có thể bù đắp cho sá»± thua kém về trang bị. Nếu vua quan nhà Nguyễn biết hiệu triệu nhân dân, kiên trì kháng chiến thì chÆ°a chắc nước Việt đã thất bại. Tiêu biểu nhÆ° nước Ethiopia dưới sá»± lãnh đạo của vị vua Menelik II đã đánh bại 20.000 quân xâm lược Italy tại trận Adwa vào năm 1896, dù đương thời Etiopia có dân số ít và trình độ phát triển còn kém hÆ¡n so với Việt Nam.

Vua quan Tự Đức cho rằng đem quân đội đánh Pháp thì không có cơ hội thắng, nhưng vì Pháp ở xa quá nên cũng không thể chiếm trọn nước Việt, họ nghĩ rằng chỉ cần cắt đất một số nơi để Pháp lập thương điếm và truyền đạo, bồi thường chiến phí cho Pháp thì họ sẽ rút quân. Thế là chính sách của nhà Nguyễn đi vào sự khiếp nhược: chỉ lo cắt đất cầu hòa với Pháp, khi có thời cơ cũng không dám chủ động tiến công địch. Quân dân một số nơi tự tổ chức kháng chiến, thu được thắng lợi ban đầu nhưng triều đình lại mặc kệ, không chi viện cũng không khen thưởng, nên sau đó cũng dần thất bại. Tiêu biểu như một số sự kiện :

  • Năm 1858, ở Đà Nẵng chỉ còn gần 1.000 ngàn quân Pháp, quân Việt Nam có hàng vạn mà tướng Nguyễn Tri PhÆ°Æ¡ng không thừa thế tấn công tiêu diệt, để Pháp an toàn rút vào Gia Định. Năm sau, ở Gia Định, Nguyễn Tri PhÆ°Æ¡ng có 30.000 quân chính quy và dân quân mà cÅ©ng không dám tiến công diệt hết quân Pháp (lúc đó chỉ có độ 300 lính, bởi phần lớn đã rút lên tấn công Trung Quốc trong chiến tranh nha phiến). Đến khi Pháp được tăng viện thì quân Nguyễn nhanh chóng vỡ trận, Pháp chiếm cả bốn tỉnh miền Đông Nam kỳ. Nhân dân miền Đông Nam Bộ đứng lên kháng chiến rất mạnh, khởi nghÄ©a TrÆ°Æ¡ng Định nổ ra và được nhân dân nhiều nÆ¡i ủng hộ. Quân Pháp lúc đó đang sa lầy ở Chiến tranh Pháp – Mexico nên cÅ©ng không còn binh lá»±c để gá»­i tiếp sang Việt Nam. NhÆ°ng đúng lúc đó vua Tá»± Đức lại xin giảng hòa, nhận cắt 3 tỉnh Gia Định, Biên Hòa, Định Tường cho Pháp, chịu trả cho Pháp 20 triệu quan chiến phí. Tá»± Đức còn lệnh cho TrÆ°Æ¡ng Định bãi binh xuống An Giang. Bị triều đình bỏ rÆ¡i, TrÆ°Æ¡ng Định thất bại.
  • Một số triều thần muốn Việt Nam liên kết với các nước Đông Á để cùng đối phó với Tây Âu, nhÆ°ng Tá»± Đức không nghe, sợ Pháp ngờ vá»±c. Nhiều nước châu Âu nhÆ° Đức, Anh, Tây Ban Nha muốn giao thÆ°Æ¡ng với Việt Nam, triều đình cÅ©ng không chấp nhận. Nhà Nguyễn đã không biết lợi dụng sá»± mâu thuẫn giữa các nước châu Âu với Pháp để mua vÅ© khí hoặc gây áp lá»±c ngoại giao với Pháp.
  • Cuối 1870, chiến tranh Pháp – Phổ nổ ra, nước Pháp đại bại, quân Pháp ở Việt Nam nhÆ° rắn mất đầu. Có người đề nghị Tá»± Đức hãy thừa cÆ¡ tiến công lấy lại Nam kỳ lục tỉnh, đánh thì chắc chắn thắng. NhÆ°ng triều đình Tá»± Đức chẳng những không tiến công, mà lại cá»­ một phái đoàn chính thức vào Sài Gòn để “chia buồn việc Pháp bại trận”.
  • Năm 1874, Pháp đánh ra miền Bắc. Quân Nguyễn bạc nhược, thất thủ nhanh chóng. Chỉ huy Garnier chỉ với 100 quân và 3 tàu chiến nhỏ, với sá»± trợ lá»±c của một số giáo dân bản xứ mà cÅ©ng lấy được Hà Nội khi đó có 7.000 quân Nguyễn phòng thủ. Tại Ninh Bình, với chỉ 10 lính Pháp trên một chiếc tàu chiến nhỏ, Pháp đã dọa được quan Tổng đốc nộp thành mà không kháng cá»±. Trong trận Cầu Giấy, Garnier bị đoàn quân LÆ°u VÄ©nh Phúc giết chết tại chiến trường, quân Pháp tháo chạy. Quân Pháp mất chỉ huy, chỉ còn biết co cụm chờ chết, người người đều tin rằng sẽ phản công thắng lợi, đuổi Pháp chạy khỏi đất Bắc. NhÆ°ng Tá»± Đức lại mặc kệ cuộc phản công thắng lợi ở Hà Nội. Đáng lẽ phải khuyến khích quân dân ở phía Bắc đánh địch mạnh hÆ¡n, lấy chiến thắng làm đà thÆ°Æ¡ng thuyết, thì Tá»± Đức lại hạ lệnh cho tÆ° lệnh chiến trường Hoàng Tá Viêm phải ngÆ°ng chiến để hiệp ước với Pháp được ký kết. Hiệp ước năm 1874 đã gần nhÆ° khẳng định quyền bá chủ của Pháp trên lãnh thổ Việt Nam.
  • Năm 1884, quân Pháp lại kéo ra Bắc, chiếm Hà Nội lần này cÅ©ng dễ dàng nhÆ° lần trước. Quân Việt Nam ở SÆ¡n Tây, Bắc Ninh tiến về bao vây Hà Nội. CÅ©ng nhÆ° Garnier, Đại tá Henri Rivière dẫn quân Pháp trong thành ra ứng chiến, và cÅ©ng y nhÆ° lần trước, quân Pháp đại bại ở Cầu Giấy, Henri Rivière cÅ©ng chết trận ở đây. Hạm đội Pháp tập trung pháo kích dữ dội hệ thống pháo đài Thuận An, cá»­a ngõ của Huế, đưa tối hậu thÆ° cho Tá»± Đức bảo phải đầu hàng. Giữa lúc chiến cuộc rộ lên thì vua Tá»± Đức băng hà. Triều đình Huế bối rối đã chấp nhận ký Hiệp ước Harmand, công nhận tất cả các quyền nội trị ngoại giao đều về tay Pháp, tức là chính thức đầu hàng và dâng nước Việt cho Pháp.

Về phía Pháp, sử gia Gosselin nói rằng các hoàng đế An Nam phải chịu trách nhiệm về sự đổ vỡ và xuống dốc của đất nước họ. Dân xứ này, quan lại, binh lính xứng đáng có được những vị vua có giá trị hơn thế. Chính quyền nhà Nguyễn đã mù quáng vì không dự liệu, không chuẩn bị gì để chống trả cuộc xâm chiếm của Pháp.

“Những lời nguyền rủa dữ dội và những cơn phẫn nộ vô ích của Thiệu Trị, những than van bất lực và những lễ tế trời của Tự Đức bộc lộ những cố gắng tột độ của các quân vương yếu đuối như đàn bà này để chống lại sự tiến công của chúng ta (Pháp) trên vương quốc của họ”.

Các vua nhà Nguyễn

Trong 143 năm tồn tại kể từ khi thành lập năm 1802 đến khi sụp đổ 1945, nhà Nguyễn có 13 vị vua cai trị thuộc 7 thế hệ. Tính theo Đế hệ thi của Minh Mạng thì dòng họ nhà Nguyễn chỉ truyền đến chữ thứ 5 (Vĩnh) hết dòng thơ thứ nhất, tương đương với thế hệ thứ 5 kể từ các con Minh Mạng.

Miếu hiệu Thụy hiệu Tên Năm Niên hiệu Lăng
Thế Tổ Cao Hoàng Đế Nguyễn Phúc Ánh 1802-1820 嘉隆
Gia Long
Thiên Thọ Lăng
Thánh Tổ Nhân Hoàng Đế Nguyễn Phúc Đảm 1820-1841 明命
Minh Mạng
Hiếu Lăng
Hiến Tổ Chương Hoàng Đế Nguyễn Phúc Miên Tông 1841-1847 紹治
Thiệu Trị
Xương Lăng
Dực Tông Anh Hoàng Đế Nguyễn Phúc Hồng Nhậm 1847-1883 嗣德
Tự Đức
Khiêm Lăng
Cung Tông Huệ Hoàng Đế Nguyễn Phúc Ưng Ái 1883 育德
Dục Đức
An Lăng
Nguyễn Phúc Hồng Dật 1883 協和
Hiệp Hòa
Giản Tông Nghị Hoàng Đế Nguyễn Phúc Ưng Đăng 1883-1884 建福
Kiến Phúc
Bối Lăng
Xuất Hoàng Đế Nguyễn Phúc Ưng Lịch 1884-1885 咸宜
Hàm Nghi
Cảnh Tông Thuần Hoàng Đế Nguyễn Phúc Ưng Kỷ 1885-1889 同慶
Đồng Khánh
Tư Lăng
Nguyễn Phúc Bửu Lân 1889-1907 成泰
Thành Thái
An Lăng
Nguyễn Phúc Vĩnh San 1907-1916 維新
Duy Tân
An Lăng
Hoằng Tông Tuyên Hoàng Đế Nguyễn Phúc Bửu Đảo 1916-1925 啟定
Khải Định
Ứng Lăng
Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy 1926-1945 保大
Bảo Đại


Sơ đồ các vua nhà Nguyễn

1
Gia Long
1802–1819
2
Minh Mạng
1820–1840
3
Thiệu Trị
1841–1847
4
Tự Đức
1847–1883
Thoại Thái Vương Kiên Thái Vương 6
Hiệp Hoà
1883
5
Dục Đức
1883
9
Đồng Khánh
1885–1889
8
Hàm Nghi
1884–1885
7
Kiến Phúc
1883–1884
10
Thành Thái
1889–1907
12
Khải Định
1916–1925
11
Duy Tân
1907–1916
13
Bảo Đại
1926–1945

Ghi chú

  1. ^ Góp phần nhận thức về vai trò lịch sá»­ của nhà Nguyễn (1802 – 1945), GS. Trần Thanh Đạm Báo Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh số 41 ngày 30 tháng 10 năm 2008 trích: “Nhiều tÆ° liệu đã có hoặc mới phá thiện đã chứng minh rằng trong ná»­a thế ká»· XIX, đối với đất nước Việt Nam, nhà Nguyễn đã làm được không ít việc, và nhiều việc có thể được gọi là những thành tá»±u. Ví dụ: đối với sá»± nghiệp thống nhất đất nước, dù rằng việc này được khởi đầu từ phong trào Tây SÆ¡n song việc thống nhất đang còn dở dang, thậm chí cuối thời Tây SÆ¡n cÅ©ng đang có nguy cÆ¡ phân liệt. Chính Nguyễn Ánh đã hoàn thành công việc dở dang này, hoàn thành sá»± nghiệp thống nhất, kết thúc tình trạng đất nước chia hai, quy giang sÆ¡n về một mối.
  2. ^ Góp phần nhận thức về vai trò lịch sử của nhà Nguyễn (1802 – 1945), GS. Trần Thanh Đạm Báo Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh số 41 ngày 30 tháng 10 năm 2008 trích: Một ví dụ thứ hai nữa có thể nhắc đến, đó là việc củng cố chủ quyền dân tộc. Dĩ nhiên, ở đây chủ quyền dân tộc thống nhất với vương quyền nhà Nguyễn. Triều Nguyễn Từ Gia Longn Minh Mạng đều lo củng cố vương quyền đồng thời củng cố chủ quyền đần tộc, chống mọi mưu toan vi phạm, xâm phạm từ bên ngoài và bên trong, kể cả bằng những biện pháp quyết liệt như trấn áp đạo Thiên chúa.
  3. ^ Nhà Nguyễn mất nước với Tây phÆ°Æ¡ng chỉ là vì văn minh nông nghiệp của Á Đông hết sức lạc hậu, yếu hèn, mà văn minh khoa học cùng cÆ¡ giới của phÆ°Æ¡ng Tây lại quá mạnh mà thôi,xem Nhiều tác giả 2007, tr. 325
  4. ^ Mất nước không phải là tất yếu… Triều Nguyễn thua Pháp vì lúng túng về đường lối chính trị dẫn đến lúng túng về quân sá»±, tuy quân lá»±c không yếu mà tá»± phải thua. Sá»± lúng túng còn thể hiện trong nỗi lo sợ trước luồng tÆ° tưởng mới đang tràn vào. Lo sợ, nhÆ°ng không có giải pháp hữu hiệu, đành thu mình đóng kín. Càng lúng túng hÆ¡n khi nhà Nguyễn đồng thời phải đối phó với những mâu thuẫn nội bộ rất nghiêm trọng, mà những mâu thuẫn này lại bị sá»± chi phối rất mạnh của các áp lá»±c từ bên ngoài. Riêng đối với đạo Gia-tô thì triều Nguyễn đã từ lúng túng đi đến bế tắc, không đủ sức chuyển đổi tÆ° duy để có biện pháp thích hợp
  5. ^ Những chính sách cá»±c đoan của nhà Nguyễn với Công giáo không hề xuất phát từ đầu óc kỳ thị tôn giáo thuần túy, mà chính xuất phát từ nhận thức giữa Công giáo với phÆ°Æ¡ng Tây là dấu nối nhÆ° một thể đồng nhất. Vì thế, trong cách nhìn của triều Nguyễn, ngăn cấm Công giáo là ngăn chặn phÆ°Æ¡ng Tây hiện diện tại Việt Nam, chứ không phải ngăn cấm một tôn giáo đơn thuần. Tuy nhiên, cách làm của nhà Nguyễn đã phản tác dụng, gây phá vỡ khối đại đoàn kết toàn dân, tạo vết hằn lịch sá»­ đau thÆ°Æ¡ng giữa lÆ°Æ¡ng và giáo, đồng thời khiến phÆ°Æ¡ng Tây có lý do nổ súng xâm lược và lợi dụng đồng bào có đạo trong suốt thời gian thống trịNguyễn Quang Trung Tiến. “Triều Nguyễn – cảm nhận đa chiều (kỳ 2)]”. Báo Đà Nẵng điện tá»­. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2008. 
  6. ^ Suốt hơn 20 năm kể từ khi ký Hiệp ước Nhâm Tuất (1862), triều Nguyễn đã không thể giải quyết mâu thuẫn giữa các cải cách mới để có thể chống Pháp thành công và muốn chống Pháp thành công thì phải cải cách; vì thế, triều Nguyễn đã để mất dần lãnh thổ và phải lần lượt ký kết nhiều hiệp ước bất bình đẳng với thực dân Pháp. Sự bế tắc này dễ làm người ta liên tưởng vua Tự Đức và triều đình Huế đã theo đuổi một đường lối chống Pháp nhu nhược, thỏa hiệp, cuối cùng chấp nhận đầu hàng giặc. Hai hiệp ước Harmand (ngày 25 tháng 8 năm 1883) và Patenôtre (ngày 6 tháng 6 năm 1884) do triều Nguyễn ký kết với Pháp diễn ra sau ngày vua Tự Đức mất, nhưng đó là kết quả khó tránh khỏi của một kế sách dùng dằng, bế tắc của người tiền nhiệm theo Nguyễn Quang Trung Tiến

Chú thích

  1. ^ “Chuyện về Vua Bảo Đại thoái vị”. 
  2. ^ “Lễ thoái vị của Hoàng đế Bảo Đại qua lời kể của nhà thÆ¡ Huy Cận”. 
  3. ^ aăTrần Trọng Kim 1971, tr. 198
  4. ^ aăTạ Chí Đại Trường 1973
  5. ^ Phan Khoang 2001, tr. 512
  6. ^ Phan Khoang 2001, tr. 511
  7. ^ aăâTạ Chí Đại Trường 1973, tr. 107-108
  8. ^ Tạ Chí Đại Trường 1973, tr. 108 -109
  9. ^ Tạ Chí Đại Trường 1973, tr. 109
  10. ^ Tạ Chí Đại Trường 1973, tr. 111
  11. ^ Phan Khoang 2001, tr. 522-523
  12. ^ Tạ Chí Đại Trường 1973, tr. 112
  13. ^ Phan Khoang 2001, tr. 535
  14. ^ aăTrần Trọng Kim 1971, tr. 155
  15. ^ Đặng Việt Thủy & Đặng Thành Trung 2008, tr. 280-281
  16. ^ Phan Khoang 2001, tr. 536
  17. ^ Phan Khoang 2001, tr. 539
  18. ^ Phan Khoang 2001, tr. 541
  19. ^ Trần Trọng Kim 1971, tr. 153-154
  20. ^ aăTrần Trọng Kim 1971, tr. 154-155
  21. ^ Phan Khoang 2001, tr. 541-542
  22. ^ Phan Khoang 2001, tr. 542
  23. ^ Trần Trọng Kim 1971, tr. 155-157
  24. ^ Phan Khoang 2001, tr. 543-544
  25. ^ aăâPhan Khoang 2001, tr. 545
  26. ^ Trần Trọng Kim 1971, tr. 157
  27. ^ Trần Trọng Kim 1971, tr. 157-158
  28. ^ aăPhan Khoang 2001, tr. 545-546
  29. ^ Phan Khoang 2001, tr. 546
  30. ^ Trần Trọng Kim 1971, tr. 158
  31. ^ aăĐặng Việt Thủy & Đặng Thành Trung 2008, tr. 281
  32. ^ aăâbcPhan Khoang 2001, tr. 550
  33. ^ Trần Trọng Kim 1971, tr. 159-160
  34. ^ aăTrần Trọng Kim 1971, tr. 160-161
  35. ^ aăTrần Trọng Kim 1971, tr. 162
  36. ^ Trần Trọng Kim 1971, tr. 163
  37. ^ aăTrần Trọng Kim 1971, tr. 164
  38. ^ Trần Trọng Kim 1971, tr. 164-165
  39. ^ Tarling 1999, tr. 245
  40. ^ aăâbcdđTrÆ°Æ¡ng Hữu Quýnh 2005, tr. 438-440
  41. ^ Trần Trọng Kim 1971, tr. 170
  42. ^ Trần Trọng Kim 1971, tr. 198-199
  43. ^ Nguyễn Thế Anh 2008, tr. 47
  44. ^ Nguyễn Thế Anh 2008, tr. 48
  45. ^ Nguyễn Thế Anh 2008
  46. ^ Vu Tam Ich. tr 18
  47. ^ STEIN TØNNESSON (ngày 1 tháng 3 năm 2003). “Sino-Vietnamese Rapprochement and the South China Sea Irritant” (bằng tiếng Anh). International Peace Research Institute. 
  48. ^ Nguyễn Nhã (ngày 2 tháng 2 năm 2009). “Hoàn cảnh lịch sá»­ dẫn đến tranh chấp chủ quyền của Việt Nam tại Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”. 
  49. ^ Đào Duy Anh 2002, tr. 453
  50. ^ Nhiều tác giả 2007, tr. 74
  51. ^ aăâbNhiều tác giả 2007, tr. 75
  52. ^ Dharma, Po. “The Uprisings of Katip Sumat and Ja Thak Wa (1833–1835)”. Cham Today. Retrieved 25 June 2015.
  53. ^ Nguyễn Thế Anh 2008, tr. 11-12
  54. ^ Nguyễn Thế Anh 2008, tr. 15-16
  55. ^ Đào Duy Anh 2002, tr. 454-455
  56. ^ aăâbTrÆ°Æ¡ng Hữu Quýnh 2005, tr. 456-457
  57. ^ aăâTrÆ°Æ¡ng Hữu Quýnh 2005, tr. 442-443
  58. ^ Phạm Văn SÆ¡n 1960, tr. 409
  59. ^ Phạm Văn SÆ¡n 1960, tr. 411-414
  60. ^ Phạm Văn SÆ¡n 1960, tr. 415-416
  61. ^ aăTrần Trọng Kim 1971, tr. 191
  62. ^ Trần Trọng Kim 1971, tr. 174
  63. ^ aăPhạm Văn SÆ¡n 1960, tr. 432
  64. ^ Alexander Woodside (1971). Vietnam and the Chinese Model: A Comparative Study of Vietnamese and Chinese Government in the First Half of the Nineteenth Century. Harvard Univ Asia Center. pp. 120–125. ISBN 978-0-674-93721-5.
  65. ^ Alexander Woodside (1971). Vietnam and the Chinese Model: A Comparative Study of Vietnamese and Chinese Government in the First Half of the Nineteenth Century. Harvard Univ Asia Center. pp. 115. ISBN 978-0-674-93721-5.
  66. ^ aăâbcdNguyễn Thế Anh 2008, tr. 214
  67. ^ Trấn Trọng Kim 1971, tr. 199
  68. ^ Buttinger 1958, tr. 271
  69. ^ Buttinger 1958, tr. 275
  70. ^ Đặng Việt Thủy & Đặng Thành Trung 2008, tr. 284
  71. ^ Nhiều tác giả 2007, tr. 37
  72. ^ aăTarling 1999, tr. 246
  73. ^ Tarling 1999, tr. 271
  74. ^ Nguyễn Thế Anh 2008, tr. 237-242
  75. ^ aăâTrÆ°Æ¡ng Hữu Quýnh 2005, tr. 450
  76. ^ TrÆ°Æ¡ng Hữu Quýnh 2004, tr. 263
  77. ^ aăâbTrÆ°Æ¡ng Hữu Quýnh 2005, tr. 451
  78. ^ TrÆ°Æ¡ng Hữu Quýnh 2004, tr. 264
  79. ^ aăThừa Thiên Huế ở ná»­a đầu thế ká»· XIX (1802 – 1858)
  80. ^ Nguyễn Thu Hường, Nghi thức lễ tịch điền triều Nguyễn , Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước
  81. ^ Nguyễn Thế Anh 2008, tr. 917
  82. ^ Đào Duy Anh 2002, tr. 457
  83. ^ Nguyễn Thế Anh 2008, tr. 92
  84. ^ aăNguyễn Khắc Thuần 2005, tr. 307
  85. ^ TrÆ°Æ¡ng Hữu Quýnh 2005, tr. 445
  86. ^ Nguyễn Khắc Thuần 2005, tr. 308
  87. ^ Nguyễn Khắc Thuần 2005, tr. 309
  88. ^ aăâbPhạm Văn SÆ¡n 1960, tr. 421
  89. ^ Trương Hữu Quýnh, Đinh Xuân Lâm, Lê Mậu Hãn, sách đã dẫn, tr 445
  90. ^ Nguyễn Thế Anh 2008, tr. 88
  91. ^ aăPhạm Văn SÆ¡n 1960, tr. 412
  92. ^ aăTrần Trọng Kim 1971, tr. 199-200
  93. ^ Phạm Văn SÆ¡n 1960, tr. 420
  94. ^ DÆ°Æ¡ng Quảng Hàm 1968, tr. 355
  95. ^ DÆ°Æ¡ng Quảng Hàm 1968, tr. 355-356
  96. ^ aăDÆ°Æ¡ng Quảng Hàm 1968, tr. 357-359
  97. ^ DÆ°Æ¡ng Quảng Hàm 1968, tr. 359
  98. ^ DÆ°Æ¡ng Quảng Hàm 1968, tr. 359-360
  99. ^ Zottoli, Brian A. (2011). Reconceptualizing Southern Vietnamese Hi story from the 15th to 18th Centuries: Competition along the Coasts from Guangdong to Cambod (A dissertation submitted in partial fulfillment of the requirements for the degree of Doctor of Philosophy (History) in The University of Michigan). p. 14. Archived from the original on January 29, 2017. Retrieved January 29, 2017.
  100. ^ aăâNguyễn Khắc Thuần 2005, tr. 321
  101. ^ Nguyễn Khắc Thuần 2005, tr. 320-326
  102. ^ aăâNguyễn Khắc Thuần 2005, tr. 325
  103. ^ aăTrÆ°Æ¡ng Hữu Quýnh 2005, tr. 471-472
  104. ^ aăNguyễn Khắc Thuần 2005, tr. 326
  105. ^ Những vấn đề Lịch sử triều Nguyễn-Tạp chí Xưa và Nay & Nhà xuất bản Văn Hóa Sài Gòn, tr 201-205
  106. ^ DÆ°Æ¡ng Quảng Hàm 1968, tr. 370
  107. ^ Trần Trọng Kim 1971, tr. 173
  108. ^ aăâNguyễn Khắc Thuần 2005, tr. 327
  109. ^ aăValiang. “Kinh thành huế”. Vietnamtourism.com. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2010. 
  110. ^ phuochung. “Nghệ thuật kiến trúc – Cung đình Huế”. Vn.net. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2010. 
  111. ^ Trương Hữu Quýnh, Đinh Xuân Lâm, Lê Mậu Hãn, sách đã dẫn, tr 410
  112. ^ Nguyễn Phan Quang 1976, tr. 173
  113. ^ aăâbNguyễn Cảnh Minh, Trần Bá Đệ, Đinh Bảo Ngọc, giáo trình lịch sử Việt Nam, Nhà xuất bản Giáo dục, 2001
  114. ^ J. Chesneaux, Contribution à histoire de la nation Vietnamiene. Paris cơ sở xuất bản xã hội, 1955, trang 85
  115. ^ Phạm Văn SÆ¡n 1960, tr. 413
  116. ^ Phạm Văn SÆ¡n 1960, tr. 429-430
  117. ^ Phạm Văn SÆ¡n 1960, tr. 433
  118. ^ Phạm Văn SÆ¡n 1960, tr. 426-429
  119. ^ Phạm Văn SÆ¡n 1960, tr. 434
  120. ^ aăĐào Duy Anh 2002, tr. 483
  121. ^ Nguyễn Thị Thạnh 1982, tr. 338
  122. ^ Đại cương lịch sử Việt Nam (Tập I), tr. 462.
  123. ^ Đại Nam thực lục, tập 27, tr. 140.
  124. ^ Đại Nam thực lục, tập 28, tr. 256.
  125. ^ Việt Nam thế kỷ 19 (1802-1884), tr. 221.
  126. ^ aăĐào Duy Anh 2002, tr. 464
  127. ^ Đặng Việt Thủy & Đặng Thành Trung 2008, tr. 298
  128. ^ Nguyễn Thế Anh 2008a, tr. 15-16
  129. ^ Nguyễn Thế Anh 2008a, tr. 17
  130. ^ aăĐặng Việt Thủy & Đặng Thành Trung 2008, tr. 308
  131. ^ aăNguyễn Thế Anh 2008a, tr. 18
  132. ^ Đặng Việt Thủy & Đặng Thành Trung 2008, tr. 308-309
  133. ^ Đặng Việt Thủy & Đặng Thành Trung 2008, tr. 309
  134. ^ Đặng Việt Thủy & Đặng Thành Trung 2008, tr. 310
  135. ^ Đặng Việt Thủy & Đặng Thành Trung 2008, tr. 311
  136. ^ Đặng Việt Thủy & Đặng Thành Trung 2008, tr. 312
  137. ^ Nguyễn Thế Anh 2008a, tr. 108
  138. ^ Nguyễn Thế Anh 2008a, tr. 102
  139. ^ Nguyễn Thế Anh 2008a, tr. 109
  140. ^ Đặng Việt Thủy & Đặng Thành Trung 2008, tr. 319-321
  141. ^ Đặng Việt Thủy & Đặng Thành Trung 2008, tr. 315
  142. ^ Đặng Việt Thủy & Đặng Thành Trung 2008, tr. 322-323
  143. ^ Nguyễn Thế Anh 2008a, tr. 291
  144. ^ Nguyễn Thế Anh 2008a, tr. 123-127
  145. ^ aăNguyễn Thế Anh 2008a, tr. 298
  146. ^ Lebra, Joyce C. Japan’s Greater East Asia Co-Prosperity Sphere in World War II: Selected Readings and Documents. New York: Oxford University Press, 1975, trang 157, 158, 160
  147. ^ Paul-Marie de La GORCE:De Gaulle-Leclerc: de Londres à l’Indochine Espoir n°132, 2002
  148. ^ Stéphane Just: A propos d’une possibilité théorique et de la lutte pour la dictature du prolétariat trên La Vérité” n°588 (Septembre 1979)
  149. ^ Journal of Vietnamese Studies. University of California Press. 2006. p. 305.
  150. ^ Journal of Vietnamese Studies. University of California Press. 2006. p. 317.
  151. ^ aă“Hội thảo triều Nguyễn, chúa Nguyễn: Nhìn nhận lại khách quan, khoa học, công bằng”. Thethaovanhoa.vn. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2010. 
  152. ^ “Đánh giá lại các Chúa Nguyễn và VÆ°Æ¡ng Triều Nguyễn: Sòng phẳng với quá khứ để giải tỏa tâm lý xã hội”. Tuoitre.com.vn. Ngày 20 tháng 10 năm 2008. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2010. 
  153. ^ “Nhã nhạc triều Nguyễn: Kiệt tác của nhân loại”. Tuổi trẻ. Ngày 10 tháng 11 năm 2003. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2010. 
  154. ^ aăNetCoDo, Hue, Viet nam (ngày 21 tháng 10 năm 2008). “Kinh Thành Huế”. Hue.vnn.vn. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2010. 
  155. ^ VH (ngày 18 tháng 9 năm 2009). “Khu biệt điện Trần Lệ Xuân được UNESCO công nhận là di sản tÆ° liệu”. Báo điện tá»­ Đảng Cộng sản Việt Nam. Bản gốc lÆ°u trữ ngày 18 tháng 9 năm 2009. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2011. 
  156. ^ TTXVN/Vietnam+ (ngày 14 tháng 12 năm 2009). “Mộc bản triều Nguyễn sắp nhận bằng di sản thế giới”. VietnamPlus, TTXVN. Bản gốc lÆ°u trữ ngày 14 tháng 12 năm 2009. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2011. 
  157. ^ Lần đầu tiên công bố bảo vật Hoàng cung, VnExpress, 9/10/2010.
  158. ^ Hồi ký Trần Huy Liệu, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, 1991, tr 370
  159. ^ Chuyện thoái vị của vua Bảo Đại qua lời kể Huy Cận
  160. ^ Báo Văn nghệ số 44, ngày 29/10/2005, tác giả Nhật Trang nêu lên một số điểm nghi vấn, trong bài viết của tác giả Nguyễn Đắc Xuân. Dẫn lại tại [1]
  161. ^ Quốc ấn của vua Bảo Đại
  162. ^ Sự thật về vụ trộm ấn tín của Nam Phương Hoàng hậu (Kỳ 1)
  163. ^ Nguyễn Phan Quang 1999, tr. 14
  164. ^ Lê Nguyễn 2009, tr. 182
  165. ^ Khâm định Việt sử thông giám cương mục, chính biên quyển 6, tr.194
  166. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, quyển 11
  167. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, quyển 14
  168. ^ Lê Nguyễn 2009, tr. 185
  169. ^ aăLê Nguyễn 2009, tr. 187
  170. ^ Lê Nguyễn 2009, tr. 188-189
  171. ^ Lê Nguyễn 2009, tr. 189
  172. ^ “Trả lại lịch sá»­ công lao nhà Nguyễn”. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2010. 
  173. ^ Uá»· ban Khoa học Xã hội Việt Nam 1971, tr. 368-386
  174. ^ “Cần khách quan với lịch sử”. Thanh Niên. Ngày 20 tháng 10 năm 2008. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2010. 
  175. ^ aăâNguyễn Quang Trung Tiến (ngày 22 tháng 10 năm 2008). “Triều Nguyễn – cảm nhận đa chiều (kỳ 3)”. Báo Đà Nẵng điện tá»­. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2010. 
  176. ^ aăLỗi chú thích: Thẻ sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên ptan
  177. ^ Những vấn đề Lịch sử triều Nguyễn-Tạp chí Xưa và Nay & Nhà xuất bản Văn Hóa Sài Gòn tr 325
  178. ^ aă“Nhà sá»­ học DÆ°Æ¡ng Trung Quốc: Chuyển đổi cÆ¡ bản hay là…(I)”. Ngày 27 tháng 10 năm 2008. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2010. 
  179. ^ aăâĐinh Xuân Lâm 2007, tr. 11
  180. ^ Đinh Xuân Lâm 2007, tr. 13
  181. ^ Đinh Xuân Lâm 2007, tr. 15-16
  182. ^ http://tuanbaovannghetphcm.vn/than-tinh-yeu-trong-tu-duy-su-hoc/
  183. ^ aăâbcNhiều tác giả 2007, tr. 325
  184. ^ Phan Huy Lê (ngày 16 tháng 10 năm 2008). “Đột phá trong nhận thức về chúa Nguyễn, triều Nguyễn”. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2010. 
  185. ^ “NghÄ© về một triều đại”. Tgvn.com.vn. Ngày 13 tháng 1 năm 2009. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2010. 
  186. ^ Nguyễn Khắc Thuần 2005, tr. 329-330
  187. ^ aăâhttp://tuanbaovannghetphcm.vn/luan-ve-nhung-nguyen-nhan-viet-nam-mat-nuoc-ve-tay-phap/
  188. ^ báo Việt Nam độc lập, ngày 1-2-1942
  189. ^ Gosselin, L’Empire d’Annam, Paris, Librairie Académique Didier, Perrin et Cie, Libraires-Editeurs, 1904, t.XVII
  190. ^ http://www.vusta.vn/vi/news/Thong-tin-Su-kien-Thanh-tuu-KH-CN/Thomas-De-Conway-va-Hiep-uoc-Versailles-1787-26081.html

sẽ jđn

Tham khảo

  • Đào Duy Anh (2002), Lịch sá»­ Việt Nam từ nguồn gốc đến Thế ká»· XIX, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin 
  • Phan Khoang (2001), Việt sá»­ xứ Đàng Trong, Nhà xuất bản Văn Học 
  • Trần Trọng Kim (1971), Việt Nam sá»­ lược 2, Sài Gòn: Trung tâm Học liệu Xuất bản thuộc Bộ Giáo dục 
  • Phan Khoang (2001), Việt sá»­ xứ Đàng Trong, Nhà xuất bản Văn Học 
  • DÆ°Æ¡ng Quảng Hàm (1968), Việt Nam văn học sá»­ yếu, Sài Gòn: Trung tâm Học liệu Xuất bản thuộc Bộ Giáo dục 
  • Đặng Việt Thủy; Đặng Thành Trung (2008), 54 vị Hoàng đế Việt Nam, Hà Nội: Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân 
  • TrÆ°Æ¡ng Hữu Quýnh; nnk. (2005), Đại cÆ°Æ¡ng Lịch sá»­ Việt Nam-tập I, Nhà xuất bản Giáo dục  Chú thích sá»­ dụng tham số |coauthors= bị phản đối (trợ giúp)
  • TrÆ°Æ¡ng Hữu Quýnh; nnk. (2004), Lịch sá»­ Việt Nam từ thế ká»· X đến 1858, Nhà xuất bản ĐH SÆ° phạm  Chú thích sá»­ dụng tham số |coauthors= bị phản đối (trợ giúp)
  • Đinh Xuân Lâm; nnk. (2007), Đại cÆ°Æ¡ng Lịch sá»­ Việt Nam-tập II, Nhà xuất bản Giáo dục  Chú thích sá»­ dụng tham số |coauthors= bị phản đối (trợ giúp)
  • Trần Đức Anh SÆ¡n (2004), HUẾ Triều Nguyễn một cái nhìn, Nhà xuất bản Thuận Hóa .
  • Nguyễn Thị Thạnh (2008), The French conquest of Cochin-China, 1858-1862, [Ph.D. Thesis], Cornell University 1982 
  • Uá»· ban Khoa học Xã hội Việt Nam (1971), Lịch sá»­ Việt Nam, tập I, Nhà xuất bản KHXH,Hà Nội 
  • Nguyễn Thế Anh (2008), Kinh tế & xã hội Việt Nam dưới các triều vua nhà Nguyễn, Nhà xuất bản Văn Học 
  • Nguyễn Thế Anh (3 tháng 11 năm 2017), Việt Nam Thời Pháp Đô Hộ, Nhà xuất bản Văn Học, ISBN 1107020003574 
  • Nguyễn Khắc Thuần (2005), Đại cÆ°Æ¡ng lịch sá»­ cổ trung đại Việt Nam, Nhà xuất bản Giáo dục 
  • Nhiều tác giả (2007), Những vấn đề lịch sá»­ triều Nguyễn, TP Hồ Chí Minh: Nhà xuất bản Văn hoá Sài Gòn 
  • Lê Nguyễn (2009), Nhà Nguyễn và những vấn đề lịch sá»­, Hà Nội: Nhà xuất bản Công an nhân dân 
  • Phạm Văn SÆ¡n (1960), Việt sá»­ toàn thÆ° (PDF) 
  • Nguyễn Phan Quang (1976), Lịch sá»­ Việt Nam (1427-1858), quyển II, Tập 2, Nhà xuất bản Giáo dục 
  • Nguyễn Phan Quang (1999), Việt Nam Thế ká»· XIX, Nhà xuất bản Giáo dục Thành phố Hồ Chí Minh 
  • Nguyễn Đình Đầu (2005), Việt Nam-Quốc hiệu và CÆ°Æ¡ng vá»±c qua các thời đại, Nhà xuất bản Trẻ 
  • Nayan Chanda (1986), Brother Enemy, Harcourt Brace Jovanovich 
  • Vu Tam Ich. “A Historical Survey of Educational Developments in Vietnam”. Bulletin of the Bureau of School Service Vol XXXII, No 2. Lexington, KY: University of Kentucky, College of Education, 1959.
  • Nguyễn LÆ°Æ¡ng Bích (1996), Lược sá»­ ngoại giao Việt Nam các thời trước, Quân đội nhân dân 

Đọc thêm

  • Tài liệu lÆ°u trữ Hán – Nôm, do Nha Kinh lược Bắc Kỳ biên soạn. Khối tài liệu này là một trong những nguồn sá»­ liệu gốc có thể phục vụ cho việc nghiên cứu lịch sá»­ về các mặt chính trị, kinh tế, an ninh trật tá»±, giao thông, tổ chức bộ máy nhà nước, văn hóa xã hội… thời kỳ phong kiến triều Nguyễn. Nó đang được lÆ°u tại Trung tâm LÆ°u trữ Quốc gia I.

(Nguồn: Wikipedia)

Đăng bởi: Trường Tiểu Học Tiên Phương

Chuyên mục: Tiểu sử

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *