Tiểu sử

Tiểu sử Tố Hữu – Cuộc đời của Tố Hữu

Tố Hữu

Tố Hữu, tên thật là Nguyễn Kim Thành (4 tháng 10 năm 1920 – 9 tháng 12 năm 2002), quê gốc ở làng Phù Lai, nay thuộc xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên-Huế.

Ông là một nhà thơ tiêu biểu của thơ cách mạng Việt Nam, đồng thời là một chính trị gia. Ông đã từng giữ các chức vụ quan trọng trong hệ thống chính trị của Việt Nam như Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Phó Chủ tịch thứ Nhất Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

Bạn đang xem: Tiểu sử Tố Hữu – Cuộc đời của Tố Hữu

Nguồn gốc bút danh Tố Hữu

Theo lời Tố Hữu tá»± giải thích về bút danh của mình thì năm 1938 ông sang Lào thăm một người anh. Ở đây ông gặp một cụ đồ người Quảng Bình. Cụ đồ đã đặt cho ông bút danh “Tố Hữu” (chữ Hán: 素有), lấy từ câu nói của Đỗ Thị “Ngô nhi tố hữu đại chí” 吾兒素有大志. Tố Hữu 素有 có nghÄ©a là “sẵn có, ý chỉ khí phách tiềm ẩn trong người”. Tố Hữu nhận tên gọi này nhÆ°ng hiểu theo nghÄ©a là “người bạn trong trắng”, viết bằng chữ Hán là “素友”, khác với tên do cụ đồ đặt ở chữ “hữu”.

Tiểu sử

Thiếu niên

Nguyễn Kim Thành sinh ngày 4 tháng 10 năm 1920 tại Thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam. Đến năm 9 tuổi, ông cùng cha trở về sống tại làng Phù Lai, nay thuộc xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. Cha ông – nhà báo Hải Triều – là một nhà nho nghèo, không đỗ đạt và phải kiếm sống rất chật vật nhÆ°ng lại thích thÆ¡, thích sÆ°u tập ca dao tục ngữ. Ông đã dạy Tố Hữu làm thÆ¡ cổ. Mẹ ông cÅ©ng là con của một nhà nho, thuộc nhiều ca dao dân ca Huế và rất thÆ°Æ¡ng con. Cha mẹ đã góp phần nuôi dưỡng tâm hồn thÆ¡ Tố Hữu.

Mẹ ông mất vào năm ông lên 12 tuổi. Năm 13 tuổi, ông vào trường Quốc học Huế. Tại đây, được trá»±c tiếp tiếp xúc với tÆ° tưởng của Karl Marx, Friedrich Engels, Vladimir Ilyich Lenin, Maxim Gorky,… qua sách báo, kết hợp với sá»± vận động của các đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam bấy giờ (Lê Duẩn, Phan Đăng LÆ°u, Nguyễn Chí Diểu), Nguyễn Kim Thành sớm tiếp cận với lý tưởng cộng sản. Năm 1936 ông gia nhập Đoàn thanh niên Dân chủ Đông DÆ°Æ¡ng.

Hoạt động trong đảng Cộng sản

Năm 1938 ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông DÆ°Æ¡ng. Tháng 4/1939, ông bị bắt, bị tra tấn dã man và đày đi nhà lao Thừa Phủ (Huế) rồi chuyển sang nhà tù Lao Bảo (Quảng Trị) và nhiều nhà tù khác ở Tây Nguyên. Tháng 3-1942, ông vượt ngục Đắc Lay (nay thuộc Kon Tum) rồi tìm ra Thanh Hóa, bắt liên lạc với Đảng (về hoạt động bí mật ở huyện Hậu Lộc và thôn Tâm Quy, xã Hà Tân, huyện Hà Trung, Thanh Hóa). Đến năm 1945, khi Cách mạng tháng Tám bùng nổ, ông được bầu làm Chủ tịch Ủy ban Khởi nghÄ©a Thừa Thiên – Huế.

Năm 1946, ông là Bí thư Tỉnh ủy Thanh Hóa. Cuối 1947, ông lên Việt Bắc làm công tác văn nghệ, tuyên huấn. Từ đó, ông được giao những chức vụ quan trọng trong công tác văn nghệ, trong bộ máy lãnh đạo Đảng và nhà nước:

  • 1948: Phó Tổng thÆ° ký Hội Văn nghệ Việt Nam;
  • 1952: Giám đốc Nha Tuyên truyền và Văn nghệ thuộc Thủ tướng phủ;
  • 1954: Thứ trưởng Bộ Tuyên truyền;
  • 1963: Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật Việt Nam;
  • Tại đại hội Đảng lần II (1951): Ủy viên dá»± khuyết Trung Æ°Æ¡ng; 1955: Ủy viên chính thức;
  • Tại đại hội Đảng lần III (1960): vào Ban Bí thÆ°;
  • Tại đại hội Đảng lần IV (1976): Ủy viên dá»± khuyết Bộ Chính trị, Bí thÆ° Ban chấp hành Trung Æ°Æ¡ng, Trưởng ban Tuyên truyền Trung Æ°Æ¡ng, Phó Ban Nông nghiệp Trung Æ°Æ¡ng;
  • Từ 1980: Ủy viên chính thức Bộ Chính trị;
  • 1981: Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, rồi Phó Chủ tịch thứ nhất Hội đồng Bộ trưởng cho tới 1986. Ngoài ra ông còn là Bí thÆ° Ban chấp hành Trung Æ°Æ¡ng.

Năm 1996, ông được Nhà nước phong tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật (đợt 1).

Ông từng đảm nhiệm nhiều chức vụ khác như Hiệu trưởng Trường Nguyễn Ái Quốc, Trưởng ban Thống nhất Trung ương, Trưởng ban Tuyên huấn Trung ương, Trưởng ban Khoa giáo Trung ương. Ông còn là Đại biểu Quốc hội khoá II và VII.

Trong thời gian phụ trách mảng văn nghệ, ông là người đã phê phán quyết liệt phong trào Nhân văn – Giai phẩm (1958). Nhiều ý kiến coi ông là tác giả chính của vụ án Văn nghệ – Chính trị này . Sau khi Lê Duẩn mất, có sá»± thay đổi mạnh mẽ tiến tới đổi mới nhằm thoát khỏi khủng hoảng kinh tế toàn diện. Ông bị mất uy tín chính trị vì phải chịu trách nhiệm trong những vụ khủng hoảng tiền tệ những năm 1980 nên bị miễn nhiệm các chức vụ quản lý, chỉ còn giữ một chức danh nghiên cứu mang tính học thuật.

Ông mất lúc 9 giờ 15 phút 7 giây, ngày 9 tháng 12 năm 2002 tại Bệnh viện 108.

Quan điểm chính trị

  • Là nhà thÆ¡ đã chọn con đường Cách mạng từ thời thanh niên, trải qua những năm tháng tù đày, thÆ¡ của ông là tiêu biểu của quan niệm nghệ thuật Cách mạng. Ông quan niệm: “Muốn có thÆ¡ hay, trước hết, phải tạo lấy tình. Nhà thÆ¡ chân chính phải không ngừng phấn đấu, tu dưỡng về lập trường tÆ° tưởng; xác định thật rõ ràng tầm nhìn, cách nhìn. Tá»± nguyện gắn bó chân thành là yêu cầu cao nhất đối với người nghệ sÄ© trong quan hệ với đất nước, với nhân dân. Ngoài ra, các nhà thÆ¡ Cách mạng còn phải kiên quyết đấu tranh, không khoan nhượng trước những biểu hiện lệch lạc, với cái xấu cái ác. Tóm lại, viết thÆ¡ phải xứng đáng là người chiến sÄ© xung kích trên mặt trận văn hóa tÆ° tưởng.”
  • Ngoài vai trò nhà thÆ¡, ông còn là một nhà chính trị, có một số bài thÆ¡ ca ngợi các lãnh tụ phong trào cộng sản quốc tế nhÆ° Stalin (Đời đời nhớ Ông), Mao Trạch Đông (Đường sang nước bạn), Hồ Chí Minh (Bác Æ¡i, Cháu nhớ Bác Hồ), Fidel Castro (Từ Cuba).

Đóng góp văn học

Ở Tố Hữu có sá»± thống nhất đẹp đẽ giữa cuộc đời cách mạng và cuộc đời thÆ¡. Chặng đường thÆ¡ của Tố Hữu là chặng đường lịch sá»­ của cả một dân tộc. Ông được coi là lá cờ đầu của thÆ¡ ca cách mạng và kháng chiến. 

Các tác phẩm

  • Từ ấy (1946)
  • Việt Bắc (1954)
  • Gió lộng (1961)
  • Ra trận (1962-1971)
  • Máu và Hoa (1977)
  • Một tiếng đờn (1992)
  • Ta với ta (1999)
  • Xây dá»±ng một nền văn nghệ lớn xứng đáng với nhân dân ta, thời đại ta (tiểu luận, 1973)
  • Cuộc sống cách mạng và văn học nghệ thuật (tiểu luận, 1981)

Nguyễn Huy Tưởng đã dành cho Tố Hữu những dòng bày tỏ sá»± yêu quý, kính trọng, nhÆ°: “Tố Hữu vững chắc quá, được toàn thể anh em văn nghệ sÄ© kính phục” (trích nhật ký ngày 28 tháng 9 năm 1949); “NghÄ© đến Tố Hữu, rá»±c rỡ nhÆ° vàng, nhÆ° ánh sáng” (trích nhật ký tháng 12-1949); “Hôm nay lại tranh thủ ý kiến Tố Hữu. ý kiến hay…” (trích nhật ký ngày 28 tháng 4 năm 1959); “Lên chÆ¡i Tố Hữu. Thoải mái. Nói chuyện sắp đi VÄ©nh Linh. Tố Hữu tán thành. Cần phải đi cho biết rộng” (trích nhật ký ngày 8 tháng 8 năm 1959); “Lên gặp Tố Hữu. Nhắc chuyện 1956, một dá»± định kịch và tiểu thuyết của ta cái hồi ấy…Tố Hữu đã góp cho nhiều ý kiến về vấn đề này”. Qua buổi gặp đó, Nguyễn Huy Tưởng thấy “yêu Đảng, yêu cách mạng” (trích nhật ký ngày 11 tháng 10 năm 1959)

Bài thơ tiêu biểu

  • Bác Æ¡i
  • Bà má Hậu Giang
  • Bài ca xuân 1961
  • Bài ca quê hÆ°Æ¡ng
  • Bầm Æ¡i!
  • Con cá chột nÆ°a
  • Có thể nào yên?
  • Đi đi em!
  • Đời đời nhớ Ông
  • Đợi anh về (tập thÆ¡ dịch, 1998)
  • Em Æ¡i… Ba Lan
  • Gặp anh Hồ Giáo
  • Hai đứa trẻ
  • Hồ Chí Minh
  • Hãy nhớ lấy lời tôi
  • Hoa tím
  • Hoan hô chiến sÄ© Điện Biên
  • Kính gá»­i cụ Nguyễn Du
  • Khi con tu hú
  • Lao Bảo
  • Lạ chÆ°a
  • Lượm
  • Mẹ Suốt
  • Mẹ TÆ¡m
  • Mồ côi
  • Một tiếng đờn
  • Miền Nam
  • MÆ°a rÆ¡i
  • Năm xÆ°a
  • Sáng tháng Năm
  • Stalin! Stalin!
  • Emily, con Æ¡i
  • Ta đi tới
  • Ta với ta
  • Từ ấy
  • Tâm tÆ° trong tù
  • TÆ°Æ¡ng tri
  • Theo chân Bác
  • Tiếng chổi tre
  • Tiếng hát sông HÆ°Æ¡ng
  • Tiếng ru
  • Với Lênin
  • Vườn nhà
  • Việt Bắc (thÆ¡, 1954)
  • Việt Nam máu và hoa
  • Xuân đang ở đâu…
  • Xuân đấy


Bài thơ cuối cùng

Tạm biệt đời ta yêu quý nhất

Còn mấy dòng thơ, một nắm tro.

Thơ gửi bạn đường. Tro bón đất

Sống là cho. Chết cũng là cho.

Phong tặng và Giải thưởng văn học chính

  • Giải nhất giải thưởng văn học Hội Văn nghệ Việt Nam 1954-1955 (tập thÆ¡ Việt Bắc)
  • Giải thưởng Văn học ASEAN của Thái Lan năm 1996 cho tập thÆ¡ “Một tiếng đờn”.
  • Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học – Nghệ thuật (đợt 1, 1996)
  • Huân chÆ°Æ¡ng Sao Vàng (1994)

Sự kiện rắc rối sau khi ông mất

Bài phỏng vấn Tố Hữu với tá»±a đề: “Gặp Tố Hữu tại biệt thá»± 76 Phan Đình Phùng” của Nhật Hoa Khanh được công bố sau khi ông mất đã gặp phải sá»± phản kháng từ gia đình ông. Vào tháng 4 năm 2004, tài liệu này bắt đầu được phổ biến trong giới văn nghệ, báo chí tại Việt Nam. Vào tháng 5 năm 2004, báo Quân đội Nhân dân trích đăng 3 kì từ tài liệu này với nhan đề “Tố Hữu” và “Hoan hô chiến sÄ© Điện Biên”, (kì số 3 vào ngày 7 tháng 5 năm 2004). Ngoài ra bài này cÅ©ng được đăng thành nhiều phần nhỏ trong các báo khác nhÆ° Nhân dân, Tiền Phong Chủ Nhật, Người Hà Nội,… Nội dung bài phỏng vấn có nhắc tới các sá»± kiện văn hóa trước đây nhÆ° Nhân văn-Giai phẩm và các nhà văn nạn nhân…, ông Tố Hữu có những lời ca ngợi các người này.

Bài phỏng vấn được thá»±c hiện năm 1997, nhÆ°ng đến khi phổ biến thì bị bà VÅ© Thị Thanh, vợ của Tố Hữu, phủ nhận và cho đó là những tài liệu giả mạo “pha chế nhiều ý kiến riêng, mượn danh Tố Hữu, biến Tố Hữu thành người phát ngôn cho ý mình”. Bà yêu cầu cÆ¡ quan chức năng vào cuộc để điều tra làm rõ sá»± giả mạo của tài liệu này, nhÆ°ng ông Nhật Hoa Khanh nói có đầy đủ băng ghi âm ghi lại cuộc nói chuyện của ông với Tố Hữu.

Thực hay giả, đúng hay sai, nhưng thực tế nó đã được các tờ báo chính thống ở Việt Nam phổ biến. Sau đó sự kiện này không được các cơ quan báo chí, văn nghệ nhắc tới nữa .

Câu nói

Tố Hữu và vụ Nhân văn Giai phẩm

Tố Hữu, khi ấy là Ủy viên Trung Æ°Æ¡ng Đảng Lao động Việt Nam, phụ trách về công tác văn hóa văn nghệ, tuyên truyền được coi là người dập tắt phong trào Nhân Văn–Giai Phẩm. Trong cuốn Qua cuộc đấu tranh chống nhóm phá hoại “Nhân Văn – Giai Phẩm” trên mặt trận văn nghệ, nhà xuất bản Văn Hoá, 1958, mà ông là tác giả, Tố Hữu đã nhận định về phong trào này và những người bị coi là dính líu nhÆ° sau:

Lật bộ áo “Nhân Văn – Giai Phẩm” thối tha, người ta thấy ra cả một ổ phản động toàn những gián điệp, mật thám, lÆ°u manh, trốt-kít, địa chủ tÆ° sản phản động, quần tụ trong những tổ quá»· với những gái điếm, bàn đèn, sách báo chống cộng, phim ảnh khiêu dâm; (trg 9. Sđd). Trong cái công ty phản động “Nhân Văn – Giai Phẩm” ấy thật sá»± đủ mặt các loại “biệt tính”: từ bọn Phan Khôi, Trần Duy mật thám cÅ© của thá»±c dân Pháp đến bọn gián điệp Thụy An, từ bọn trốt-kít TrÆ°Æ¡ng Tá»­u, Trần Đức Thảo đến bọn phản Đảng Nguyễn Hữu Đang, Trần Dần, Lê Đạt. Một đặc điểm chung là hầu hết bọn chúng đều là những phần tá»­ thuộc giai cấp địa chủ và tÆ° sản phản động, và đều ngoan cố giữ lập trường quyền lợi giai cấp cÅ© của mình, cố tình chống lại cách mạng và chế độ;. (trg 17. Sđd). Báo cáo tổng kết vụ “Nhân Văn – Giai Phẩm” cÅ©ng do Tố Hữu viết có kết luận về tÆ° tưởng chính trị và quan điểm văn nghệ của phong trào Nhân Văn–Giai Phẩm nhÆ° sau:

Những tÆ° tưởng chính trị thù địch Kích thích chủ nghÄ©a cá nhân tÆ° sản, bôi nhọ chủ nghÄ©a cộng sản. Xuyên tạc mâu thuẫn xã hội, khiêu khích nhân dân chống lại chế độ và Đảng lãnh đạo. Chống lại chuyên chính dân chủ nhân dân, chống lại cách mạng xã hội chủ nghÄ©a. Gieo rắc chủ nghÄ©a dân tộc tÆ° sản, gãi vào đầu óc sô-vanh chống lại chủ nghÄ©a quốc tế vô sản. Những quan điểm văn nghệ phản động Nhóm “Nhân Văn – Giai Phẩm” phản đối văn nghệ phục vụ chính trị, thá»±c tế là phản đối văn nghệ phục vụ đường lối chính trị cách mạng của giai cấp công nhân. Chúng đòi “tá»± do, độc lập” của văn nghệ, rêu rao “sứ mạng chống đối” của văn nghệ, thá»±c ra chúng muốn lái văn nghệ sang đường lối chính trị phản động. Nhóm “Nhân Văn – Giai Phẩm” phản đối văn nghệ phục vụ công nông binh, nêu lên “con người” trừu tượng, thá»±c ra chúng đòi văn nghệ trở về chủ nghÄ©a cá nhân tÆ° sản đồi trụy. Nhóm “Nhân Văn – Giai Phẩm” hằn học đả kích nền văn nghệ xã hội chủ nghÄ©a, nhất là văn nghệ Liên Xô, đả kích nền văn nghệ kháng chiến của ta. Thá»±c ra, chúng phản đối chế độ xã hội chủ nghÄ©a, chúng đòi đi theo chế độ tÆ° bản chủ nghÄ©a. Nhóm “Nhân Văn – Giai Phẩm” phản đối sá»± lãnh đạo của Đảng đối với văn nghệ, chúng đòi “trả văn nghệ cho văn nghệ sÄ©”, thá»±c ra chúng đòi đưa quyền lãnh đạo văn nghệ vào tay bọn phản cách mạng.

Nhà văn Nguyễn Huy Tưởng, trong nhật ký của mình, sau khi nhắc tới tên một số người trong nhóm Nhân văn – Giai phẩm cÅ©ng đã cho hay: “Bọn họ có người nói: Đừng viết nữa, để dành cho trẻ viết. Vô luận một bài, một sáng tác nào của anh em mà họ gọi là “cây đa cây đề”, họ đều gạt đi, cho là tồi. Trong khi đó thì họ tâng bốc những bài của họ mà phần lớn là không ngá»­i được!” (trích nhật ký ngày 23 tháng 1 năm 1956).

Nhận định

Gia đình

  • Phu nhân là VÅ© Thị Thanh, nguyên Phó Trưởng ban Ban Tuyên huấn Trung Æ°Æ¡ng (nay là Ban Tuyên giáo Trung Æ°Æ¡ng). Mối tình của hai người được họ tá»± khen ngợi là một mối tình đẹp và bà Thanh đã viết hồi ký về Tố Hữu mang tên Ký ức người ở lại. Bà qua đời năm 2012.
  • Vợ chồng Tố Hữu có ba con, hai gái và một trai.

Vinh danh

  • Hiện nay, tên của ông được đặt tên cho một tuyến đường ở thủ đô Hà Nội, nối từ ngã tÆ° Khuất Duy Tiến – Lê Văn LÆ°Æ¡ng đến ngã tÆ° Vạn Phúc – Yên Lộ, chạy qua hàng loạt các khu đô thị lớn nhÆ°: khu đô thị mới Phùng Khoang, Trung Văn, Vạn Phúc… Ở Huế cÅ©ng có một con đường mang tên ông.

Chú thích

  1. ^ Văn Mộc, Bút danh của nhà thơ Tố Hữu, Báo Bắc Giang. Ngày 7 tháng 1 năm 2009 [Ngày 14 tháng 8 năm 2013].
  2. ^ Thá»±c ra câu “Ngô nhi tố hữu đại chí” 吾兒素有大志 không phải là của Khổng Tá»­ mà là lời của Đỗ thị (杜氏) nói về con trai của mình là Triệu Khuông Dận (趙匡胤) (陳邦瞻,宋史紀事本末,卷十 金匱之盟。[2013å¹´8月14日]。). Nguyên văn nhÆ° sau:
    Hán văn:

    吾兒素有大志,今果然矣。
    Phiên âm Hán Việt:

    Ngô nhi tố hữu đại chí, kim quả nhiên hĩ.
    Dịch nghĩa:

    Con ta sẵn có chí lớn, nay quả nhiên như vậy.
  3. ^ Qua cuộc đấu tranh chống nhóm phá hoại “Nhân Văn – Giai Phẩm” trên mặt trận văn nghệ, Nhà xuất bản Văn Hoá, 1958
  4. ^ “ThÆ¡ của Tố Hữu về Joseph Stalin”. BBC tiếng Việt. 31 tháng 10 năm 2007. 
  5. ^ Thơ Tố Hữu, Hà Minh Đức, Nhà xuất bản văn học
  6. ^ “Mượn danh nhà thÆ¡ Tố Hữu truyền bá quan điểm riêng”. Truy cập 29 tháng 11 năm 2004.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  7. ^ Tức Bác Hồ
  8. ^ “Tố Hữu và ngọn đèn cô đơn đã tắt”. Truy cập 14 tháng 9 năm 2008.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  9. ^ [1] Nhà phê bình văn học Hoài Thanh: Nỗi oan không khó gỡ
  10. ^ Bà VÅ© Thị Thanh viết hồi ký về Tố Hữu – Mối tình đẹp trong đời và cả trong thÆ¡

(Nguồn: Wikipedia)

Đăng bởi: Trường Tiểu Học Tiên Phương

Chuyên mục: Tiểu sử

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *